Làng nghề - Nghệ nhân tạo động lực cho sự phát triển Công nghiệp văn hoá
07:51 05/08/2026
(THPL) - Phiên họp thứ hai của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hóa Việt Nam xác định phát triển công nghiệp văn hóa thành một động lực tăng trưởng mới. Làng nghề - nghệ nhân sẽ khơi dậy nguồn lực, kiến tạo động lực phát triển mới, là trụ cột cho phát triển công nghiệp văn hóa.
Ngành nghề nông thôn, làng nghề truyền thống có lịch sử hình thành lâu đời, giữ vai trò quan trọng, đóng góp vào phát triển kinh tế – xã hội và bảo tồn giá trị văn hóa khu vực nông thôn nước ta.
Hiện nay nước ta có khoảng 5.400 làng nghề (với gần 2.000 làng nghề truyền thống), thu hút hàng triệu lao động và hàng trăm nghệ nhân hạt nhân trên cả nước, chiếm khoảng 35% kim ngạch xuất khẩu của khu vực kinh tế nông thôn.
Sản phẩm làng gốm Bát Tràng. (Ảnh: Phạm Hùng)
Nghệ nhân là lực lượng nòng cốt giữ gìn bí quyết, kỹ năng tinh hoa và trực tiếp truyền dạy nghề. Tỷ lệ nghệ nhân và thợ giỏi lớn tuổi (trên 50 tuổi) chiếm phần lớn, trong khi lực lượng lao động trẻ kế cận tại nhiều làng nghề truyền thống đang đối mặt với sự thiếu hụt.
Những năm gần đây các cơ quan quản lý đã ban hành một số cơ chế chính sách nhằm thúc đẩy bảo tồn và phát triển làng nghề, tuy nhiên, qua thời gian triển khai một số chính sách đã bộc lộ bất cập, không còn phù hợp với những tình hình mới. Những hạn chế cũng là nguyên nhân khiến cho công tác bảo tồn và phát triển làng nghề còn gặp khó khăn, một số nội dung trong Nghị định số 52/2018/NĐ-CP ngày 12/4/2018 của Chính phủ về phát triển ngành nghề nông thôn thực hiện chưa hiệu quả, như: tình trạng phát triển không theo quy hoạch; ô nhiễm môi trường tại một số làng nghề có xu hướng ngày càng nghiêm trọng; thiếu nguồn nguyên liệu để sản xuất.
Ngoài ra, nhiều làng nghề truyền thống có nguy cơ mai một; công nghệ sản xuất tại các làng nghề lạc hậu, thủ công; việc ứng dụng khoa học công nghệ và chuyển đổi số còn hạn chế; chế độ đãi ngộ đối với nghệ nhân chưa được quan tâm đúng mức, hiện tượng già hóa dân số và chất lượng nhân lực chưa bảo đảm,…Đồng thời sản phẩm của làng nghề, làng nghề truyền thống chưa khai thác hết tiềm năng và thế mạnh vốn có của làng nghề.
Trên cơ sở đó, việc tiếp tục triển khai có hiệu quả Nghị định số 52/2018/NĐ-CP của Chính phủ, Quyết định số 801/QĐ-TTg ngày 7/7/2022 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình bảo tồn và phát triển làng nghề Việt Nam giai đoạn 2021 – 2030 là rất cần thiết, phù hợp với thực tiễn.
Một số chính sách hỗ trợ, bảo tồn, phát triển làng nghề và ngành nghề nông thôn, các chính sách áp dụng đối với các doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ hợp tác, hộ gia đình đang hoạt động, sản xuất, kinh doanh, dịch vụ ngành nghề nông thôn theo quy định của pháp luật đã được triển khai đồng bộ. Chính sách đãi ngộ đối với nghệ nhân trong lĩnh vực thủ công mỹ nghệ được Chủ tịch nước phong tặng danh hiệu Nghệ nhân Nhân dân, Nghệ nhân Ưu tú. Đối với Nghệ nhân truyền dạy nghề và người tham gia thực hành, học nghề theo chương trình, kế hoạch của cấp thẩm quyền tổ chức được hỗ trợ kinh phí để triển khai.
Không chỉ là những không gian lưu giữ nghề cổ, nhiều làng nghề hiện nay vẫn duy trì được sức sống mạnh mẽ. Hoạt động sản xuất, kinh doanh tại các làng nghề, đặc biệt trong lĩnh vực thủ công mỹ nghệ, diễn ra sôi động và có quy mô lớn. Điều đó cho thấy thị trường đối với các sản phẩm làng nghề vẫn rộng mở, đồng thời khẳng định tiềm năng phát triển còn rất lớn.
Làng nghề dệt lụa Vạn Phúc đã được Hội đồng Thủ công Thế giới công nhận trở thành thành viên của mạng lưới các Thành phố thủ công sáng tạo trên toàn Thế giới. (Ảnh: NHN)
Một trong những tín hiệu đáng mừng là đội ngũ nghệ nhân làng nghề ngày càng trẻ hóa. Thực tế cho thấy, ngày càng nhiều người trẻ lựa chọn quay về quê hương để tiếp nối nghề truyền thống.
Không ít bạn trẻ từng làm việc tại các doanh nghiệp, có thu nhập khá ổn định ở đô thị nhưng vẫn quyết định trở về làng nghề để lập nghiệp. Có người chấp nhận từ bỏ mức lương 15–20 triệu đồng mỗi tháng để theo đuổi nghề truyền thống của gia đình. Điều đó cho thấy sức hút của làng nghề không chỉ đến từ giá trị kinh tế, mà còn từ niềm tự hào và tình yêu đối với nghề cha ông để lại.
Ông Tôn Gia Hóa, Phó Chủ tịch Hiệp hội Làng nghề Việt Nam cho biết, giá trị lớn nhất của làng nghề được thể hiện qua từng sản phẩm thủ công. Đó là kết tinh của trí tuệ, bàn tay khéo léo và kỹ thuật tinh xảo được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Trong mỗi sản phẩm mỹ nghệ, những hoa văn, họa tiết truyền thống được gìn giữ và tái hiện với sự sáng tạo không ngừng của người thợ. Chính những chi tiết tinh xảo đó đã làm nên bản sắc riêng của từng làng nghề, tạo nên giá trị khác biệt mà các sản phẩm công nghiệp khó có thể thay thế.
Nghệ nhân vì thế không chỉ là người làm nghề, mà còn là người lưu giữ ký ức văn hóa của cộng đồng. Họ vừa bảo tồn những kỹ thuật truyền thống, vừa sáng tạo ra những sản phẩm mới phù hợp với thị hiếu của thị trường hiện đại. Chính sự kết hợp giữa truyền thống và sáng tạo đã giúp nhiều làng nghề tiếp tục phát triển trong bối cảnh kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế.
Một trong những chương trình được đánh giá có tác động mạnh mẽ đến sự phát triển của làng nghề trong những năm gần đây là Chương trình “Mỗi xã một sản phẩm” (OCOP).
Theo Chủ tịch Hiệp hội Thủ công mỹ nghệ và làng nghề Hà Nội Hà Thị Vinh, OCOP không chỉ là một chương trình phát triển sản phẩm mà còn là một bộ tiêu chí quan trọng giúp các cơ sở sản xuất chuẩn hóa quy trình sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm. Nhờ đó, nhiều sản phẩm làng nghề đã được nâng tầm, từng bước đáp ứng yêu cầu của thị trường quốc tế.
Bà Hà Thị Vinh trao đổi tại Chương trình. (Ảnh: Phạm Hùng)
Bà Vinh cũng chỉ rõ, dư địa xuất khẩu đối với các sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Việt Nam vẫn còn rất lớn. Việc phát triển OCOP chính là một chiến lược hiệu quả để các làng nghề nâng cao giá trị sản phẩm, mở rộng thị trường và hội nhập sâu hơn với kinh tế toàn cầu. Song song với đó, hoạt động xúc tiến thương mại cũng đóng vai trò quan trọng trong việc quảng bá sản phẩm làng nghề. Những hội chợ, triển lãm chuyên ngành không chỉ là nơi giới thiệu sản phẩm mà còn giúp các doanh nghiệp kết nối với đối tác, tìm kiếm cơ hội hợp tác và mở rộng thị trường.
Tuy nhiên, để các sản phẩm thủ công mỹ nghệ có thể vươn xa hơn, theo bà Hà Thị Vinh, cần có chiến lược xúc tiến thương mại bài bản và chuyên nghiệp. Các doanh nghiệp làng nghề cần được hỗ trợ nhiều hơn để tham gia các hội chợ quốc tế, đồng thời được tư vấn về cách thức quảng bá, xây dựng thương hiệu và tiếp cận thị trường.
Một hướng đi khác được nhiều chuyên gia đề xuất là xây dựng các trung tâm thiết kế và đổi mới sáng tạo tại các vùng làng nghề trọng điểm. Mô hình này được kỳ vọng sẽ giúp kết nối giữa nghệ nhân, doanh nghiệp với các nhà khoa học, nhà thiết kế, từ đó tạo ra những sản phẩm mới có giá trị cao hơn.
Mô hình này có thể được thí điểm tại những làng nghề có tiềm năng lớn như Bát Tràng. Trung tâm sẽ hoạt động theo hình thức hợp tác công - tư, trong đó Nhà nước hỗ trợ về mặt bằng, còn doanh nghiệp và người dân cùng tham gia đầu tư trang thiết bị và nguồn lực. Sự kết hợp giữa tri thức khoa học, công nghệ mới với kinh nghiệm truyền thống của nghệ nhân sẽ mở ra nhiều cơ hội để các sản phẩm làng nghề tiếp cận những thị trường khó tính hơn.
Có thể khẳng định, với những chính sách mới kể trên, Việt Nam đang hướng tới mục tiêu và hiện thực hóa làng nghề trở thành trụ cột trong phát triển công nghiệp văn hóa trong kỷ nguyên mới, và làng nghềvẫn mãi mãi một trong những “trụ cột” tạo nên bản sắc văn hóa Việt.