Kỳ 4: Công nghiệp Quảng Ninh trước yêu cầu phát triển bền vững: Từ định hướng đến hành động
(THPL) - Khép lại tuyến chuyên đề “Công nghiệp Quảng Ninh động lực tăng trưởng và khát vọng phát triển”, kỳ 4 nhìn từ yêu cầu phát triển bền vững để nhận diện những vấn đề cần tiếp tục giải quyết trong chặng đường phía trước. Từ nền tảng sản xuất, dòng vốn đầu tư đến yêu cầu đổi mới công nghệ và chuyển đổi xanh được phân tích ở các kỳ trước, bài viết tập trung vào những giải pháp để Quảng Ninh vừa phát huy các lợi thế công nghiệp hiện có, vừa hình thành động lực tăng trưởng mới theo hướng hiệu quả, hiện đại và bền vững.
Không gian công nghiệp cần đi trước một bước
Một nền công nghiệp muốn phát triển dài hạn trước hết cần một không gian phát triển đủ tốt. Đó không chỉ là quỹ đất để xây dựng nhà máy, mà là tổng thể hạ tầng có khả năng kết nối sản xuất với điện, nước, giao thông, cảng biển, logistics, xử lý nước thải, dịch vụ và nguồn nhân lực. Đây là vấn đề Quảng Ninh đang phải giải quyết song song với quá trình thu hút đầu tư.
Đến giữa năm 2026, địa phương có 27 khu công nghiệp nằm trong quy hoạch được phê duyệt; trong đó 11 khu đã được chấp thuận chủ trương đầu tư, cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư và thành lập với tổng diện tích khoảng 6.299ha, 8 khu đã đi vào hoạt động. Quỹ đất vì thế đã bắt đầu hình thành một dư địa đáng kể. Nhưng quỹ đất chỉ thực sự trở thành lợi thế khi đi cùng hạ tầng.

Trong 8 tháng năm 2026, Quảng Ninh tiếp tục rà soát từng dự án, tháo gỡ vướng mắc về thủ tục, giải phóng mặt bằng và đẩy nhanh các hạng mục giao thông kết nối, điện, nước, xử lý nước thải nhằm đưa quỹ đất công nghiệp vào khai thác. Điều này cho thấy yêu cầu đối với phát triển khu công nghiệp đang thay đổi. Một khu công nghiệp mới không thể chỉ được đánh giá bằng diện tích đất có thể cho thuê, mà cần được nhìn như một hệ sinh thái sản xuất.
Nhà máy cần điện ổn định, nước sản xuất và nước sạch; hàng hóa cần đường bộ, đường thủy, cảng biển và dịch vụ logistics; người lao động cần nơi ở, đào tạo và các dịch vụ thiết yếu; doanh nghiệp cần hệ thống xử lý chất thải và môi trường sản xuất đáp ứng yêu cầu ngày càng cao.
Quảng Ninh có lợi thế rõ về vị trí khi sở hữu hệ thống cao tốc, cảng biển, sân bay quốc tế và cửa khẩu. Tuy nhiên, để lợi thế địa kinh tế chuyển thành lợi thế cạnh tranh, bài toán tiếp theo là kết nối các hạ tầng này thành một chuỗi logistics phục vụ trực tiếp cho sản xuất. Định hướng phát triển logistics của tỉnh cũng đang đặt trọng tâm vào việc kết nối cảng biển với khu công nghiệp, khu kinh tế và chuỗi cung ứng.
Nói cách khác, hạ tầng công nghiệp của giai đoạn tới phải đi trước không chỉ về mặt tiến độ, mà còn phải đi trước về chất lượng.
Thu hút đầu tư: từ số lượng sang chất lượng
Một thay đổi quan trọng khác nằm ở cách nhìn về thu hút đầu tư. Trong giai đoạn mở rộng không gian công nghiệp, nhu cầu về vốn là rất rõ. Nhưng khi quỹ đất công nghiệp ngày càng trở thành nguồn lực có giá trị, câu hỏi không còn đơn giản là “thu hút được bao nhiêu dự án”, mà là những dự án đó tạo ra giá trị gì cho nền kinh tế địa phương.
Đây cũng là hướng Quảng Ninh đang đặt ra trong chiến lược thu hút FDI. Năm 2026, tỉnh đặt mục tiêu thu hút khoảng 2,5-3 tỷ USD FDI, đồng thời định hướng ưu tiên các lĩnh vực công nghệ cao, công nghiệp chế biến, chế tạo, công nghiệp xanh, điện tử, năng lượng sạch, logistics và các ngành có giá trị gia tăng lớn.

Đáng chú ý, quan điểm được Ban Quản lý Khu kinh tế Quảng Ninh nêu ra là không đặt mục tiêu lấp đầy khu công nghiệp bằng mọi giá, mà ưu tiên dự án có công nghệ hiện đại, giá trị gia tăng cao, sử dụng đất hiệu quả và có khả năng tạo chuỗi liên kết với doanh nghiệp trong nước. Đây là sự chuyển dịch có ý nghĩa đối với chất lượng tăng trưởng.
Một dự án sử dụng diện tích đất lớn nhưng giá trị gia tăng thấp sẽ tạo ra hiệu quả khác với một dự án công nghệ cao có khả năng hình thành mạng lưới nhà cung ứng, đào tạo nhân lực kỹ thuật và tạo ra sản phẩm có hàm lượng công nghệ cao.
Vì vậy, tiêu chí lựa chọn dự án trong giai đoạn tới cần ngày càng cụ thể hơn: công nghệ gì, sử dụng bao nhiêu đất, tiêu hao bao nhiêu năng lượng, tạo bao nhiêu giá trị gia tăng, đóng góp ra sao cho ngân sách, sử dụng lao động thế nào và có khả năng kết nối với doanh nghiệp trong nước đến đâu. Khi những câu hỏi đó được đặt ra ngay từ khâu lựa chọn dự án, thu hút đầu tư mới thực sự trở thành công cụ để tái cơ cấu nền công nghiệp.
Doanh nghiệp trong nước phải đứng trong chuỗi giá trị
Một trong những bài toán quan trọng nhất sau dòng vốn FDI chính là mức độ lan tỏa của dòng vốn đó. Nếu một nhà máy FDI đến Quảng Ninh, nhập phần lớn nguyên liệu, linh kiện từ bên ngoài, sử dụng công nghệ và dịch vụ từ mạng lưới cung ứng riêng rồi xuất khẩu sản phẩm, tác động trực tiếp đối với doanh nghiệp địa phương sẽ có giới hạn.
Ngược lại, nếu doanh nghiệp trong nước có thể trở thành nhà cung cấp linh kiện, bao bì, cơ khí, điện - điện tử, logistics, bảo trì, phần mềm, dịch vụ kỹ thuật..., giá trị mà dự án tạo ra sẽ được giữ lại nhiều hơn trong nền kinh tế địa phương. Đây là lý do phát triển công nghiệp hỗ trợ và nâng năng lực doanh nghiệp trong nước cần được đặt ngang với thu hút FDI.
Quảng Ninh đã xác định rõ mục tiêu nâng cao năng lực doanh nghiệp tư nhân để đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế, qua đó tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng của doanh nghiệp FDI. Tỉnh cũng đang thúc đẩy kết nối doanh nghiệp tư nhân với doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp FDI, hướng tới hình thành các chuỗi sản xuất, cung ứng bền vững. Điểm cần làm tiếp theo là biến chủ trương đó thành những chương trình cụ thể ở cấp doanh nghiệp.
Doanh nghiệp nhỏ và vừa muốn tham gia chuỗi cung ứng không chỉ cần vốn. Họ cần năng lực quản trị, tiêu chuẩn chất lượng, hệ thống truy xuất, năng lực giao hàng ổn định, công nghệ và đội ngũ kỹ thuật. Bởi vậy, chính sách hỗ trợ cần đi theo hướng nâng năng lực cung ứng, thay vì chỉ hỗ trợ doanh nghiệp theo từng khoản chi phí riêng lẻ.
Việc Quảng Ninh ban hành chính sách hỗ trợ các cơ sở sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp di dời hoặc đầu tư mới vào cụm công nghiệp giai đoạn 2026-2030 cũng là một bước nhằm tổ chức lại không gian sản xuất, đồng thời tạo điều kiện cho khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận hạ tầng sản xuất tập trung. Từ đây, mục tiêu cao hơn không chỉ là có thêm doanh nghiệp, mà là có thêm những doanh nghiệp đủ năng lực trở thành nhà cung ứng.
Nhân lực phải đi cùng với nhà máy
Một nhà máy hiện đại sẽ không thể vận hành bằng lực lượng lao động của mô hình công nghiệp cũ. Khi tự động hóa, số hóa, robot, dữ liệu và các hệ thống quản trị sản xuất được đưa sâu hơn vào dây chuyền, nhu cầu nhân lực cũng thay đổi theo. Doanh nghiệp cần công nhân kỹ thuật, kỹ thuật viên tự động hóa, kỹ sư điện - điện tử, cơ khí, công nghệ thông tin, quản trị dữ liệu và nhân lực có khả năng vận hành thiết bị hiện đại.

Nhu cầu này đã thể hiện khá rõ tại các khu công nghiệp. Chẳng hạn, khi mở rộng nhà máy giai đoạn 3 tại Khu công nghiệp Đông Mai, Công ty TNHH Điện tử Tonly Việt Nam có nhu cầu tuyển thêm hơn 2.000 lao động trong năm 2026. Vấn đề vì vậy không chỉ là “có đủ người làm việc”, mà là có đúng người với kỹ năng mà nền công nghiệp mới cần hay không. Đây là khoảng trống mà liên kết giữa trường nghề, cơ sở đào tạo và doanh nghiệp cần được lấp đầy.
Thay vì đào tạo theo khả năng sẵn có của cơ sở đào tạo, chương trình nên được thiết kế từ nhu cầu thực tế của nhà máy: doanh nghiệp cần kỹ năng nào, vị trí nào thiếu nhân lực, thiết bị nào cần người vận hành, tiêu chuẩn nào phải đáp ứng. Doanh nghiệp cũng cần tham gia sâu hơn vào quá trình đào tạo, từ xây dựng chương trình, tổ chức thực hành đến tuyển dụng sau đào tạo.
Cùng với đó là bài toán nhà ở và dịch vụ cho người lao động tại các khu công nghiệp. Khi quy mô sản xuất mở rộng, khả năng thu hút lao động không thể chỉ dựa vào tiền lương mà còn phụ thuộc vào điều kiện sống, giao thông, nhà ở và các dịch vụ xã hội. Một khu công nghiệp muốn giữ chân nhà đầu tư cũng cần giữ được người lao động.
Chuyển đổi xanh phải gắn với hiệu quả tăng trưởng
Nếu chỉ nhìn chuyển đổi xanh dưới góc độ môi trường, doanh nghiệp có thể coi đây là thêm một khoản đầu tư. Nhưng nếu nhìn từ góc độ năng suất, câu chuyện sẽ khác.
Tiết kiệm năng lượng giúp giảm chi phí. Tối ưu nguyên liệu giúp giảm giá thành. Tái sử dụng chất thải giúp giảm chi phí xử lý và giảm nhu cầu nguyên liệu đầu vào. Số hóa giúp giảm thời gian dừng máy. Công nghệ mới giúp nâng chất lượng sản phẩm. Như vậy, chuyển đổi xanh không nhất thiết đối lập với tăng trưởng; nếu được thực hiện đúng hướng, nó có thể trở thành một bộ phận của năng lực cạnh tranh.
Đây cũng là hướng phù hợp với quá trình chuyển dịch công nghiệp mà Quảng Ninh đang theo đuổi: từ khai thác tài nguyên sang chế biến, chế tạo, công nghệ, logistics và những lĩnh vực có giá trị gia tăng cao hơn.
Với các ngành công nghiệp truyền thống, quá trình này càng cần một lộ trình thực tế. Không thể trong một thời gian ngắn thay thế toàn bộ nền tảng than, điện, xi măng, vật liệu hay khai khoáng. Nhưng có thể từng bước nâng hiệu suất thiết bị, giảm tiêu hao năng lượng, sử dụng nguyên liệu hiệu quả hơn, tăng tái chế và kiểm soát tốt hơn chất thải. Đó là cách chuyển đổi xanh gắn với thực tế sản xuất thay vì dừng ở mục tiêu trên giấy.
Từ một nền công nghiệp lớn đến một nền công nghiệp có sức lan tỏa
Sau cùng, thước đo của công nghiệp Quảng Ninh trong giai đoạn mới không nên chỉ nằm ở quy mô sản xuất hay số vốn đầu tư.
Một nền công nghiệp có khả năng tạo động lực dài hạn cần đồng thời trả lời được nhiều câu hỏi: năng suất có tăng không; hàm lượng công nghệ có cao hơn không; giá trị gia tăng giữ lại ở địa phương là bao nhiêu; doanh nghiệp trong nước có tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng không; chất lượng nguồn nhân lực có được nâng lên không; tài nguyên và năng lượng được sử dụng hiệu quả đến đâu?
Nếu trả lời được những câu hỏi đó, công nghiệp sẽ không chỉ tạo ra sản phẩm. Công nghiệp còn tạo ra hệ sinh thái doanh nghiệp, việc làm kỹ thuật, năng lực công nghệ, dịch vụ logistics, thị trường cho doanh nghiệp nhỏ và vừa và nguồn lực cho những ngành kinh tế khác. Đó mới là hiệu ứng lan tỏa mà một trung tâm công nghiệp cần hướng tới.
Quảng Ninh đang có một nền tảng quan trọng để thực hiện bước chuyển này: hệ thống khu công nghiệp, lợi thế giao thông - cảng biển, dòng vốn đầu tư quốc tế, sự phát triển của công nghiệp chế biến, chế tạo và định hướng lựa chọn những dự án có công nghệ, giá trị gia tăng cao hơn. Nhưng lợi thế chỉ trở thành năng lực cạnh tranh khi được kết nối thành một hệ thống. Vì vậy, chặng đường phía trước không đơn thuần là mở thêm khu công nghiệp, thu hút thêm dự án hay tăng thêm công suất.
Đó phải là quá trình đồng thời hoàn thiện hạ tầng – chọn lọc dòng vốn – nâng năng lực doanh nghiệp nội địa – phát triển nhân lực – đổi mới công nghệ – sử dụng hiệu quả tài nguyên.
Từ góc nhìn đó, phát triển công nghiệp bền vững không phải là một đích đến tách rời tăng trưởng. Đó là cách Quảng Ninh tạo ra một mô hình tăng trưởng có khả năng duy trì trong dài hạn, trong đó mỗi dự án mới, mỗi nhà máy mới và mỗi khoản đầu tư công nghệ đều phải đóng góp vào việc nâng cao chất lượng của toàn bộ nền công nghiệp.
Và đó cũng là bước chuyển quan trọng: từ tư duy “có thêm công nghiệp” sang mục tiêu “có một nền công nghiệp mạnh hơn”.
|
Công nghiệp Quảng Ninh động lực tăng trưởng và khát vọng phát triển - Kỳ 2. Thu hút đầu tư công nghiệp: Mở rộng không gian phát triển cho Quảng Ninh Công nghiệp Quảng Ninh động lực tăng trưởng và khát vọng phát triển - Kỳ 3. Đổi mới công nghệ, chuyển đổi xanh: Yêu cầu mới đối với công nghiệp Quảng Ninh Công nghiệp Quảng Ninh động lực tăng trưởng và khát vọng phát triển - Kỳ 4. Công nghiệp Quảng Ninh trước yêu cầu phát triển bền vững: Từ định hướng đến hành động |
Lê Quân
Tin khác
Vin Nexus Center: Trường học hạnh phúc hình trái tim và những gam màu rất “lạ”
EU siết chặt quy định môi trường, doanh nghiệp Việt cần chủ động thích ứng
Hà Nội đề xuất loạt cơ chế đặc thù để đẩy nhanh 7 dự án đường sắt
Sắp diễn ra Hội chợ Hàng Việt Nam tiêu biểu xuất khẩu 2026
Phát hiện, quy tập thêm 6 bộ hài cốt liệt sĩ tại Công viên Lê Thị Riêng
NHNN làm rõ quy định giám sát phòng chống rửa tiền với khách VIP
Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà dự lễ truy điệu, an táng 71 hài cốt liệt sĩ tại Lào Cai
(THPL) - Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà dự lễ truy điệu, an táng 71 hài cốt liệt sĩ tại Lào Cai, trong khuôn khổ “Chiến dịch 500 ngày đêm...30/09/2026 12:21:11Tháo gỡ điểm nghẽn công nghiệp hỗ trợ Việt Nam
(THPL) - Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương Nguyễn Thanh Nghị nhấn mạnh, phát triển công nghiệp hỗ trợ cần chuyển trọng tâm từ...30/09/2026 12:26:00Giá vàng ngày 30/9: Vàng SJC tăng 1 triệu đồng/lượng
(THPL) - Giá vàng hôm nay 30/9 đảo chiều phục hồi ở cả thị trường trong nước lẫn quốc tế. Sau phiên giảm sâu trước đó, giá vàng miếng...30/09/2026 11:29:37Thanh Hóa di dời khẩn cấp 180 người khỏi khu vực nguy cơ sạt lở
(THPL) - Trước nguy cơ sạt lở đất đá nghiêm trọng do xuất hiện nhiều vết nứt, sụt lún bất thường, xã Đồng Lương, tỉnh Thanh Hóa đã...30/09/2026 08:48:04
ĐỌC NHIỀU NHẤT
Quảng bá thương hiệu Việt
-
Nghệ nhân quốc gia Trần Văn Phú: Hơn 20 năm giữ nghề điêu khắc gỗ và truyền lửa cho thế hệ trẻ
- Imperia Sensa Park: Lợi thế từ tọa độ sinh thái liền kề nhà ga Metro số 6
- TP.HCM mở rộng nhịp cầu đưa doanh nghiệp tham gia vào chuỗi cung ứng toàn...
- Tăng cường quảng bá sản phẩm, thương hiệu địa phương tại Hội chợ...
