Chiến dịch làm sạch mã số thuế: Tạo dựng nền tảng dữ liệu thuế chính xác, minh bạch
(THPL) - Giá trị lớn nhất của chiến dịch “Làm sạch mã số thuế – Tháo gỡ điểm nghẽn trong kinh doanh” không chỉ nằm ở việc xử lý các hồ sơ tồn đọng hay cập nhật lại thông tin người nộp thuế, mà sâu xa hơn là tạo dựng một nền tảng dữ liệu thuế chính xác, thống nhất và minh bạch.
Cục Thuế vừa ban hành Quyết định số 595/QĐ-CT, triển khai chiến dịch “Làm sạch mã số thuế - Tháo gỡ điểm nghẽn trong kinh doanh” trên toàn quốc trong năm 2026. Một trong những nội dung đẩy mạnh là chuẩn hóa dữ liệu, đồng thời chấn chỉnh công tác xử lý hồ sơ làm sạch mã số thuế.
Tạp chí Thương hiệu và Pháp luật đã có cuộc trao đổi với luật sư Nguyễn Văn Tuấn, Giám đốc Công ty Luật TGS xoay quanh vấn đề này.
Một bước tái cấu trúc dữ liệu quản lý
Chiến dịch “Làm sạch mã số thuế - Tháo gỡ điểm nghẽn trong kinh doanh” đang được triển khai trên phạm vi toàn quốc. Theo ông, đâu là giá trị lớn nhất và tác động dài hạn của chiến dịch này đối với cải cách quản lý thuế cũng như môi trường đầu tư, kinh doanh?
Luật sư Nguyễn Văn Tuấn: Theo tôi, giá trị lớn nhất của chiến dịch “Làm sạch mã số thuế – Tháo gỡ điểm nghẽn trong kinh doanh” không chỉ nằm ở việc xử lý các hồ sơ tồn đọng hay cập nhật lại thông tin người nộp thuế, mà sâu xa hơn là tạo dựng một nền tảng dữ liệu thuế chính xác, thống nhất và minh bạch – tiền đề quan trọng cho quá trình hiện đại hóa quản lý nhà nước và cải thiện môi trường kinh doanh.

Trong quản lý thuế hiện đại, dữ liệu chính là “hạ tầng mềm” của toàn bộ hệ thống. Khi thông tin về người nộp thuế không chính xác, bị trùng lặp, thiếu cập nhật hoặc không đồng bộ giữa các cơ quan quản lý, không chỉ cơ quan thuế gặp khó khăn trong quản lý mà người dân, doanh nghiệp cũng có thể bị ảnh hưởng bởi những thủ tục hành chính không cần thiết, thậm chí phát sinh những rủi ro pháp lý mà họ không thực sự có lỗi. Vì vậy, việc chuẩn hóa mã số thuế và dữ liệu người nộp thuế phải được nhìn nhận như một bước tái cấu trúc dữ liệu quản lý, chứ không đơn thuần là một chiến dịch hành chính ngắn hạn.
Về dài hạn, nếu được thực hiện đồng bộ và có cơ chế duy trì dữ liệu sau chiến dịch, đây sẽ là một bước quan trọng để xây dựng hệ sinh thái quản lý thuế số, kết nối tốt hơn giữa cơ quan thuế với hệ thống đăng ký kinh doanh, hóa đơn điện tử, ngân hàng và các cơ sở dữ liệu liên quan. Khi đó, mục tiêu không chỉ là “quản lý thuế tốt hơn”, mà còn là tạo thuận lợi hơn cho người nộp thuế và nâng cao chất lượng của môi trường đầu tư, kinh doanh.
Cục Thuế cũng yêu cầu các đơn vị thuế địa phương chấn chỉnh việc xử lý hồ sơ, trong đó nhấn mạnh công khai quy trình, thành phần hồ sơ và thời hạn giải quyết; hạn chế người nộp thuế phải đi lại, bổ sung hồ sơ nhiều lần… Nhìn theo hướng nâng cao chất lượng thực thi, ông đánh giá như thế nào về động thái này và cần những giải pháp gì để chuẩn hóa chất lượng phục vụ người nộp thuế trên toàn hệ thống?
Luật sư Nguyễn Văn Tuấn: Theo tôi, đây là một yêu cầu rất đúng và cần thiết, bởi một chính sách tốt chỉ thực sự có giá trị khi được thực thi thống nhất, minh bạch và có thể dự đoán được. Nếu cùng một quy định nhưng mỗi địa phương, thậm chí mỗi cán bộ lại có cách hiểu và yêu cầu khác nhau, thì chính sự thiếu thống nhất trong thực thi sẽ trở thành một “điểm nghẽn” mới đối với người nộp thuế.
Việc Cục Thuế yêu cầu công khai quy trình, thành phần hồ sơ, thời hạn giải quyết và hạn chế việc bổ sung hồ sơ nhiều lần vì vậy không đơn thuần là chấn chỉnh thủ tục hành chính. Về bản chất, đây là yêu cầu đưa hoạt động thực thi về đúng nguyên tắc minh bạch, trách nhiệm giải trình và bảo đảm quyền của người nộp thuế. Người dân, doanh nghiệp phải biết mình cần chuẩn bị gì, hồ sơ được xử lý trong bao lâu và nếu có vướng mắc thì ai chịu trách nhiệm giải quyết.
Theo tôi, muốn chuẩn hóa chất lượng phục vụ người nộp thuế trên toàn hệ thống thì trước hết phải chuẩn hóa từ quy trình đến con người và cơ chế giám sát.
Một là, cần xây dựng và áp dụng thống nhất bộ tiêu chuẩn phục vụ người nộp thuế, trong đó quy định rõ thành phần hồ sơ, cách thức hướng dẫn, thời hạn xử lý và trách nhiệm của từng khâu; hạn chế tối đa tình trạng cùng một thủ tục nhưng mỗi nơi yêu cầu khác nhau.
Hai là, phải số hóa và minh bạch toàn bộ quá trình xử lý hồ sơ, để người nộp thuế có thể theo dõi trạng thái hồ sơ, biết rõ lý do khi hồ sơ cần bổ sung và hạn chế việc phải đi lại nhiều lần. Dữ liệu xử lý cũng cần được sử dụng để phát hiện những đơn vị có tỷ lệ hồ sơ trễ hạn hoặc bổ sung bất thường.
Ba là, cần gắn trách nhiệm của cán bộ và người đứng đầu với chất lượng phục vụ, đồng thời có cơ chế tiếp nhận, phản hồi và xử lý độc lập đối với phản ánh của người nộp thuế.
Cuối cùng, cần đánh giá hiệu quả chiến dịch không chỉ bằng số hồ sơ đã xử lý, mà bằng mức độ tháo gỡ thực tế cho người nộp thuế, thời gian và chi phí tuân thủ được giảm xuống bao nhiêu. Khi đó, cải cách mới đi vào thực chất và tạo được niềm tin lâu dài.

Quản lý dựa trên dữ liệu và rủi ro
Làm sạch mã số thuế được Cục Thuế xác định gắn với chuyển đổi số, quản lý rủi ro và kết nối dữ liệu giữa cơ quan Thuế với cơ quan đăng ký kinh doanh, công an, hải quan và các cơ quan liên quan. Theo ông, sau giai đoạn xử lý các hồ sơ tồn đọng, ngành thuế cần ưu tiên những giải pháp nào để duy trì dữ liệu “đúng, đủ, sạch, sống”, chủ động ngăn ngừa phát sinh những điểm nghẽn mới, đồng thời tiếp tục giảm thời gian và chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp?
Luật sư Nguyễn Văn Tuấn: Theo tôi, sau khi xử lý hồ sơ tồn đọng, vấn đề quan trọng hơn là không để dữ liệu lại “bẩn” trở lại. Muốn duy trì dữ liệu “đúng, đủ, sạch, sống”, ngành thuế cần chuyển từ tư duy rà soát theo chiến dịch sang cơ chế cập nhật và kiểm soát dữ liệu thường xuyên, theo thời gian thực. Ngành thuế cần tập trung vào ba việc cốt lõi: duy trì dữ liệu chính xác, chủ động phát hiện rủi ro và giảm chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp.
Trước hết, phải duy trì cơ chế kết nối, đối soát và cập nhật dữ liệu thường xuyên giữa cơ quan thuế với đăng ký kinh doanh, công an, hải quan và các cơ quan liên quan, để mọi thay đổi về pháp nhân, tình trạng hoạt động, người đại diện, hóa đơn và nghĩa vụ thuế được cập nhật kịp thời.
Thứ hai, chuyển mạnh sang quản lý dựa trên dữ liệu và rủi ro, ứng dụng công nghệ để phát hiện sớm các dấu hiệu bất thường, từ đó xử lý ngay từ đầu thay vì để phát sinh hồ sơ tồn đọng hoặc vi phạm mới can thiệp.
Thứ ba, lấy giảm thời gian và chi phí tuân thủ làm thước đo hiệu quả. Dữ liệu Nhà nước đã có thì không nên yêu cầu doanh nghiệp cung cấp lại nhiều lần; thủ tục cần được số hóa, liên thông và xử lý theo nguyên tắc “một lần khai báo, nhiều lần sử dụng”.
Một mục tiêu quan trọng của việc làm sạch mã số thuế là xác định chính xác tình trạng hoạt động của người nộp thuế, hạn chế tình trạng doanh nghiệp “ma”. Theo ông, việc chuẩn hóa dữ liệu này có thể hỗ trợ như thế nào cho công tác phòng chống gian lận thuế, gian lận hóa đơn và các hành vi lợi dụng pháp nhân để thực hiện hoạt động bất hợp pháp?
Luật sư Nguyễn Văn Tuấn: Theo tôi, việc chuẩn hóa dữ liệu mã số thuế hoàn toàn có thể trở thành một “lớp lọc” quan trọng trong hệ thống quản lý rủi ro của ngành thuế. Bởi muốn phát hiện gian lận thì trước hết phải xác định đúng chủ thể đang hoạt động và tình trạng pháp lý thực tế của chủ thể đó.
Khi dữ liệu về doanh nghiệp, người đại diện, địa chỉ, tình trạng hoạt động và hóa đơn được cập nhật, đối chiếu thường xuyên với các cơ sở dữ liệu liên quan, cơ quan thuế sẽ dễ dàng nhận diện những dấu hiệu bất thường như doanh nghiệp không hoạt động thực tế nhưng vẫn phát sinh giao dịch, sử dụng hóa đơn bất thường, thay đổi pháp nhân hoặc người đại diện liên tục. Đây là những tín hiệu quan trọng để khoanh vùng rủi ro, ngăn chặn việc lợi dụng pháp nhân để mua bán hóa đơn, trốn thuế hoặc hợp thức hóa các giao dịch không có thật.
Tuy nhiên, “làm sạch dữ liệu” mới là bước đầu; giá trị thực sự nằm ở khả năng sử dụng dữ liệu để cảnh báo và phòng ngừa. Ngành thuế cần kết hợp dữ liệu sạch với kết nối liên thông và phân tích rủi ro để chuyển từ cách làm “phát hiện rồi xử lý” sang “nhận diện sớm – cảnh báo sớm – ngăn chặn sớm”.
Phải tạo thuận lợi hơn cho doanh nghiệp
Làm sạch mã số thuế cũng đặt ra yêu cầu kết nối, đồng bộ dữ liệu giữa cơ quan Thuế với cơ quan đăng ký kinh doanh, công an, hải quan, bảo hiểm và các cơ quan liên quan. Theo ông, đâu là những khó khăn lớn nhất trong việc liên thông dữ liệu hiện nay?
Luật sư Nguyễn Văn Tuấn: Theo tôi, khó khăn lớn nhất hiện nay không chỉ nằm ở công nghệ, mà ở sự khác biệt về chuẩn dữ liệu, quy trình cập nhật, trách nhiệm quản lý và cơ chế chia sẻ thông tin giữa các cơ quan. Khi mỗi hệ thống có cách thu thập, cập nhật và xác định trạng thái dữ liệu khác nhau, rất dễ phát sinh tình trạng cùng một chủ thể nhưng thông tin giữa các cơ quan không đồng nhất.
Để khắc phục, cần xây dựng một cơ chế liên thông dữ liệu thống nhất, trong đó xác định rõ: dữ liệu nào là dữ liệu gốc, cơ quan nào chịu trách nhiệm cập nhật, thời điểm cập nhật, cơ chế đối soát và trách nhiệm khi dữ liệu sai hoặc chậm cập nhật. Việc kết nối cũng cần thực hiện theo nguyên tắc “một nguồn dữ liệu chuẩn – nhiều cơ quan cùng khai thác”, thay vì mỗi cơ quan tự xây dựng và duy trì một phiên bản dữ liệu riêng.

Bên cạnh đó, cần tăng cường kết nối tự động giữa các hệ thống để khi có thay đổi về đăng ký kinh doanh, tình trạng hoạt động, người đại diện, bảo hiểm, hải quan hoặc các thông tin liên quan thì dữ liệu được cập nhật và cảnh báo kịp thời cho các cơ quan có thẩm quyền.
Quan trọng nhất, phải chuyển từ tư duy “chia sẻ dữ liệu khi có yêu cầu” sang “chia sẻ dữ liệu theo cơ chế thường xuyên, có kiểm soát và có trách nhiệm”. Khi xác định rõ đầu mối chịu trách nhiệm về dữ liệu và có cơ chế đối soát liên tục, mới có thể hạn chế thực chất tình trạng “mỗi nơi một dữ liệu”, đồng thời tạo nền tảng cho quản lý rủi ro và giảm thủ tục cho doanh nghiệp.
Từ góc độ doanh nghiệp, điều họ quan tâm không chỉ là hồ sơ được “làm sạch” mà còn là sau chiến dịch, các thủ tục thuế có thực sự nhanh hơn, minh bạch hơn và ít phát sinh chi phí hơn hay không. Theo ông, ngành thuế cần đặt ra những chỉ tiêu hoặc tiêu chí nào để đo lường hiệu quả thực chất của chiến dịch?
Luật sư Nguyễn Văn Tuấn: Theo tôi, nên coi thời gian, số lần đi lại, số lần bổ sung hồ sơ và chi phí tuân thủ của người nộp thuế là những thước đo quan trọng, bên cạnh số lượng hồ sơ được xử lý. Bởi số hồ sơ “đã làm sạch” chỉ phản ánh kết quả về mặt hành chính, chưa phản ánh chiến dịch có thực sự tháo gỡ điểm nghẽn cho doanh nghiệp hay không.
Để đo lường thực chất, cần tập trung vào các chỉ tiêu: thời gian xử lý thực tế; tỷ lệ hồ sơ giải quyết đúng hạn và đúng ngay từ đầu; số lần người nộp thuế phải đi lại hoặc bổ sung hồ sơ; chi phí tuân thủ giảm được bao nhiêu; mức độ hài lòng và số lượng phản ánh, kiến nghị của người nộp thuế.
Quan trọng hơn, cần có số liệu trước và sau chiến dịch để so sánh, tránh đánh giá hiệu quả chỉ bằng số tuyệt đối. Theo tôi, thước đo cuối cùng phải là: doanh nghiệp có làm thủ tục nhanh hơn, đơn giản hơn, minh bạch hơn và ít tốn kém hơn hay không.
Mục tiêu cuối cùng của chuyển đổi số trong quản lý thuế không phải là quản lý doanh nghiệp nhiều hơn, mà là quản lý chính xác hơn, hỗ trợ tốt hơn và tạo thuận lợi hơn. Khi dữ liệu được sử dụng đúng cách, doanh nghiệp tuân thủ sẽ được giảm chi phí và thời gian thực hiện nghĩa vụ, trong khi cơ quan Thuế có thể tập trung nguồn lực vào những rủi ro thực sự. Đó mới là nền tảng của một môi trường kinh doanh minh bạch, công bằng và có khả năng dự báo.
Xin cảm ơn ông!
Sơn Lam thực hiện
Tin khác
Vụ vi phạm rừng phòng hộ tại Đồng Đò (Hà Nội): Trách nhiệm trước hết thuộc Chủ tịch, Phó chủ tịch xã
Khởi tố, bắt giam nguyên Phó Giám đốc Ngân hàng Hợp tác xã Việt Nam - Chi nhánh Thanh Hóa
Ứng dụng AI để tăng sức cạnh tranh của thương hiệu du lịch quốc gia
Sửa đổi Luật Đất đai: Chuyển mạnh sang tư duy "tái thiết cuộc sống" cho người dân khi thu hồi đất
Từ "Khoán 10" đến yêu cầu KH-CN trở thành động lực tăng trưởng mới
Vận chuyển hơn 7.000 mẫu hài cốt liệt sĩ từ TP.HCM ra Hà Nội để giám định ADN
Từ 6,7 tỷ USD lên hơn 500 tỷ USD: 40 năm đổi thay của kinh tế Việt Nam
(THPL) - Sau 40 năm Đổi mới, GDP Việt Nam tăng từ 6,7 tỷ USD lên hơn 500 tỷ USD, đưa đất nước vào nhóm thu nhập trung bình cao. Tuy nhiên, mô hình...21/08/2026 14:16:00Nâng tầm sản phẩm quà tặng làng nghề thành “đại sứ” giới thiệu văn hóa
(THPL) - Hà Nội có nhiều sản phẩm làng nghề, thủ công mỹ nghệ và sản vật đặc trưng. Tuy nhiên, để trở thành những món quà có giá trị,...21/08/2026 14:40:00Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh phải là nơi vấn đề khó được nghiên cứu đến cùng
(THPL) - Tại buổi làm việc với Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã ghi nhận những đóng góp to...21/08/2026 11:45:22Ấn tượng Chương trình nghệ thuật "Nắng Ba Đình" chào mừng kỷ niệm 81 năm Ngày Cách mạng Tháng Tám
(THPL) - Tối 20/8, tại Cung Văn hóa Lao động Hữu nghị Việt Xô đã diễn ra Chương trình nghệ thuật chính luận "Nắng Ba Đình" chào mừng kỷ...21/08/2026 14:57:00
ĐỌC NHIỀU NHẤT
Quảng bá thương hiệu Việt
-
Tăng cường quảng bá sản phẩm, thương hiệu địa phương tại Hội chợ Mùa Xuân lần thứ nhất năm 2026
- Triển lãm “Đạo học ngàn năm” tôn vinh truyền thống hiếu học của dân...
- Tháo gỡ “điểm nghẽn” để ngành kim hoàn - đá quý Việt Nam cất cánh
- Vinh danh Nghệ nhân “Bàn tay vàng” và phong tặng Nghệ nhân Quốc gia
