TS Lê Doãn Hợp: Văn hoá là nguồn lực kinh tế vô biên, càng khai thác càng giá trị!
(THPL) - TS Lê Doãn Hợp, nguyên Bộ trưởng Bộ Thông tin - Truyền thông nhấn mạnh rằng văn hóa chính là một nguồn lực kinh tế vô biên, loại tài nguyên duy nhất càng khai thác càng giàu có, càng sử dụng càng gia tăng giá trị.
Sở hữu kho tàng di sản độc đáo nhưng văn hóa Việt Nam vẫn chưa chuyển hóa tương xứng thành sức mạnh kinh tế. Phóng viên Tạp chí điện tử Thương hiệu và Pháp luật đã có cuộc trao đổi với TS Lê Doãn Hợp - Nguyên Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông về những “điểm nghẽn” thể chế và giải pháp khơi thông những điểm nghẽn này.
Thể chế cho công nghiệp văn hóa
Ông đã từng nhiều lần nhấn mạnh về tầm quan trọng của việc “giải phóng nguồn lực”. Theo ông, đâu là rào cản lớn nhất trong tư duy quản lý hiện nay khiến chúng ta vẫn nhìn nhận văn hóa như một lĩnh vực "tiêu tiền", hoạt động mang tính phong trào, bề nổi, hơn là một ngành kinh tế mũi nhọn có khả năng tạo ra giá trị thặng dư cao và đóng góp trực tiếp vào GDP?
TS Lê Doãn Hợp: Cái nghẽn lớn nhất của văn hóa Việt Nam hiện nay nằm ngay ở tư duy quản lý. Suốt một thời gian dài, không ít cơ quan quản lý và địa phương vẫn mặc định coi văn hóa là một ngành thuần túy phúc lợi, là nơi để tiêu tiền ngân sách, tổ chức lễ hội hội diễn phong trào mang tính bề nổi, chứ chưa nhìn nhận văn hóa là một "ngành kinh tế đặc biệt". Khi coi văn hóa là ngành tiêu tiền, người ta chỉ lo quản lý sao cho không sai phạm, lo siết chặt bằng các mệnh lệnh hành chính hành chính hóa văn hóa, thay vì tìm cách nuôi dưỡng và kích hoạt sức sáng tạo. Đây là tư duy bao cấp lạc hậu trong nền kinh tế thị trường.
Chúng ta phải hiểu rằng, văn hóa chính là một nguồn lực kinh tế vô biên, loại tài nguyên duy nhất càng khai thác càng giàu có, càng sử dụng càng gia tăng giá trị. Hãy nhìn sang Hàn Quốc, Nhật Bản, họ xuất khẩu phim ảnh, âm nhạc, ẩm thực và thu về hàng chục tỷ USD mỗi năm. Họ không quản lý văn hóa bằng sự ban phát, xin cho.
Muốn văn hóa phát triển tương xứng, tư duy quản lý phải chuyển mạnh mẽ từ "chỉ giữ gìn" sang "phát triển liên tục", từ "quản lý hành chính" sang "quản trị kinh tế văn hóa". Phải giải phóng tư duy trước, xem đầu tư cho văn hóa là đầu tư cho phát triển, đầu tư sinh lời bền vững nhất của quốc gia, chứ không phải là khoản chi tiêu trợ cấp xã hội
Việt Nam sở hữu một kho tàng di sản đồ sộ, độc đáo, nhưng đóng góp của ngành công nghiệp văn hóa vào GDP vẫn còn rất khiêm tốn. Theo ông, hệ thống thể chế hiện nay đang "thiếu" hay đang "thừa" những quy định gì để các doanh nghiệp, các nhà sáng tạo có thể tự tin đầu tư, cống hiến?
TS Lê Doãn Hợp: Hệ thống thể chế của chúng ta hiện nay vừa thừa, lại vừa thiếu, tạo ra một nghịch lý kìm hãm sự sáng tạo. Chúng ta đang "thừa" những quy định, thủ tục hành chính rườm rà, ranh giới kiểm duyệt đôi khi còn mơ hồ và cảm tính. Cơ chế cấp phép, thẩm định sản phẩm văn hóa, nghệ thuật, điện ảnh hay xuất bản hiện nay vẫn mang nặng tư duy tiền kiểm. Sự rườm rà này làm mất đi tính thời điểm và cơ hội thương mại hóa của các sản phẩm sáng tạo vốn có vòng đời rất ngắn trong thời đại số.
Ngược lại, chúng ta đang "thiếu" các hành lang pháp lý mang tính kiến tạo, thúc đẩy. Chúng ta thiếu một Luật Công nghiệp văn hóa thực thụ để định danh rõ ràng địa vị pháp lý, quyền lợi và nghĩa vụ của các chủ thể.
Chúng ta đặc biệt thiếu các quy định bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ một cách nghiêm minh, hiệu quả, khiến nạn xâm phạm bản quyền diễn ra tràn lan, làm nản lòng các nhà sáng tạo chân chính. Thể chế hiện tại chưa tạo ra được cơ chế bảo hiểm rủi ro cho các dự án văn hóa độc đáo. Muốn doanh nghiệp tự tin đổ vốn, thể chế phải chuyển từ "chặn dòng" sang "khơi dòng", thay tiền kiểm bằng hậu kiểm rõ ràng, minh bạch.
Bài toán bảo tồn và huy động nguồn lực xã hội
Chúng ta thường nói nhiều về mục tiêu "biến di sản thành tài sản". Tuy nhiên, thực tế đang diễn ra sự xung đột gay gắt giữa yêu cầu bảo tồn nguyên trạng và nhu cầu khai thác kinh tế để phát triển. Ông gợi mở mô hình quản trị nào để các giá trị văn hóa vừa giữ được bản sắc tinh túy, vừa có thể "sống khỏe", tự nuôi sống mình trong dòng chảy của kinh tế thị trường?
TS Lê Doãn Hợp: Bảo tồn và phát triển không phải là hai mặt đối lập loại trừ lẫn nhau, mà phải là hai chân của một cơ thể cùng bước đi. Nếu chỉ bảo tồn nguyên trạng theo kiểu "đóng băng" di sản trong lồng kính, di sản đó sẽ trở thành di sản chết, gánh nặng cho ngân sách. Ngược lại, nếu khai thác kinh tế một cách thô bạo, chạy theo lợi nhuận trước mắt, chúng ta sẽ tự tay phá hủy cái gốc bản sắc, đánh mất đi cốt cách quốc gia. Bản sắc chính là lõi giá trị làm nên sức hấp dẫn thương mại của di sản, mất bản sắc thì di sản không còn giá trị kinh tế nữa.

Mô hình quản trị tối ưu là "Bảo tồn trong phát triển và phát triển để bảo tồn". Di sản phải được sống trong đời sống đương đại, được công nghệ hóa, dịch vụ hóa để phục vụ con người.
Tôi gợi mở mô hình hợp tác công tư (PPP) áp dụng mạnh mẽ vào di sản. Nhà nước nắm quyền sở hữu, ban hành tiêu chuẩn bảo tồn nghiêm ngặt và giám sát tối cao. Doanh nghiệp tư nhân tham gia đầu tư hạ tầng dịch vụ, ứng dụng công nghệ số để làm sống dậy không gian di sản, tạo ra trải nghiệm mới cho du khách. Khi di sản tạo ra doanh thu lớn, một phần nguồn thu đó quay trở lại tái đầu tư cho công tác trùng tu, bảo tồn, giúp di sản tự nuôi sống mình và làm giàu cho cộng đồng xung quanh.
Trong kỷ nguyên số hiện nay, "sức mạnh mềm" của một quốc gia không còn gói gọn ở các giá trị truyền thống hữu hình, mà phụ thuộc rất lớn vào khả năng lan tỏa, thẩm thấu trên không gian mạng toàn cầu. Theo ông, chúng ta cần có những cơ chế chính sách đột phá nào để đưa văn hóa Việt Nam "xuất khẩu" ra thế giới một cách chuyên nghiệp và hiệu quả thông qua các nền tảng công nghệ?
TS Lê Doãn Hợp: Không gian mạng chính là biên giới mới của quyền lực văn hóa. Quốc gia nào chiếm lĩnh được không gian mạng, quốc gia đó sẽ định hình được sức mạnh mềm toàn cầu. Việt Nam có lợi thế là một trong những nước có tốc độ phổ cập internet và mạng xã hội nhanh nhất thế giới, người trẻ rất nhạy bén với công nghệ, nhưng chúng ta chưa có chiến lược quốc gia tầm cỡ để "vũ khí hóa" công nghệ đưa văn hóa ra biển lớn.
Chúng ta vẫn xuất khẩu văn hóa theo kiểu nhỏ lẻ, cử vài đoàn nghệ thuật đi biểu diễn giao lưu mang tính ngoại giao, phạm vi tiếp cận rất hạn chế. Để đột phá, Nhà nước phải có chính sách đặt hàng, đầu tư trọng điểm cho các doanh nghiệp công nghệ phối hợp với các nhà làm nội dung số. Cần thành lập một Quỹ hỗ trợ xuất khẩu văn hóa số để tài trợ cho các dự án game thuần Việt có yếu tố lịch sử, các bộ phim điện ảnh chất lượng cao phát trên các nền tảng xuyên quốc gia như Netflix, các kênh truyền thông quảng bá văn hóa bằng nhiều ngôn ngữ trên YouTube, TikTok.

Đồng thời, phải cải cách thể chế thông thoáng về thủ tục thanh toán quốc tế, chính sách thuế đối với sản phẩm sáng tạo số để khuyến khích các nghệ sĩ độc lập tự tin vươn ra thế giới. Xuất khẩu văn hóa số chính là con đường ngắn nhất, tiết kiệm nhất để định vị thương hiệu Việt Nam trên bản đồ toàn cầu.
Nguồn lực nhà nước chi cho văn hóa luôn có hạn và thường phải dàn trải. Để văn hóa thực sự trở thành động lực phát triển vững chắc, việc xã hội hóa, huy động nguồn vốn từ khu vực tư nhân là yếu tố sống còn. Vậy theo ông, cần có những chính sách ưu đãi cụ thể về thuế, đất đai, hay tín dụng như thế nào để thu hút các "sếu đầu đàn" trong lĩnh vực tư nhân sẵn sàng rót vốn lớn vào văn hóa?
TS Lê Doãn Hợp: Nguồn lực trong dân, trong doanh nghiệp tư nhân vô cùng lớn, cái họ cần là một cơ chế đủ hấp dẫn và một sự tôn trọng đúng tầm. Lâu nay chúng ta gọi là "xã hội hóa" nhưng thực chất nhiều nơi mới chỉ dừng lại ở việc kêu gọi tài trợ, quyên góp tiền bạc mang tính chất từ thiện, nghĩa vụ.
Doanh nghiệp bỏ tiền ra thì họ phải thấy được quyền lợi, sự minh bạch và khả năng thu hồi vốn. Muốn thu hút các tập đoàn lớn, các "sếu đầu đàn" đầu tư vào các tổ hợp công nghiệp văn hóa, trung tâm sáng tạo lớn, Nhà nước phải dùng đòn bẩy thể chế kinh tế rất cụ thể.
Về thuế, cần áp dụng mức thuế suất ưu đãi cao nhất, miễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong những năm đầu cho các dự án đầu tư vào lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật, bảo tồn di sản. Về đất đai, phải có quy hoạch quỹ đất sạch dành riêng cho thiết chế văn hóa với cơ chế miễn hoặc giảm tiền thuê đất dài hạn. Về tín dụng, phải thiết lập gói tín dụng ưu đãi với lãi suất thấp dành riêng cho phát triển công nghiệp sáng tạo. Đặc biệt, phải công nhận sản phẩm văn hóa, quyền sở hữu trí tuệ là tài sản hợp pháp được thế chấp để vay vốn ngân hàng. Có như vậy, dòng vốn tư nhân mới tự tin chảy mạnh vào văn hóa.
Xin cám ơn ông!
Lê Thọ Bình thực hiện
Tin khác
Thủ tướng yêu cầu các ngân hàng giảm lãi vay
Hà Nội chiều tối nay có mưa dông, miền Bắc chuẩn bị đón đợt mưa lớn kéo dài
“81 Mùa Bình Yên” – Dòng chảy truyền thống của những người vì nhân dân phục vụ
Công An Nghệ An: Triệt phá đường dây “phòng khám, điều trị xương khớp” trái phép
Huấn Hoa Hồng bị khởi tố
Để văn hoá đi xa, không thể đứng ngoài làn sóng số
Học tập và thực hành theo Bác: Chuyển mạnh từ nhận thức sang hành động
(THPL) - Việc ban hành Chỉ thị số 07-CT/TW của Bộ Chính trị đặt ra yêu cầu chuyển mạnh từ “học tập và làm theo” sang “học tập và...15/08/2026 18:22:00Phát huy lợi thế, đưa Dung Quất thành trung tâm kinh tế biển năng động
(THPL) - Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc đề nghị Quảng Ngãi tạo động lực mới, đưa Dung Quất trở thành một trong những trung tâm...15/08/2026 16:37:47Thủ tướng yêu cầu siết chặt an toàn thực phẩm, minh bạch bữa ăn học sinh
(THPL) - Thủ tướng Chính phủ yêu cầu tăng cường kiểm tra, giám sát an toàn thực phẩm tại các cơ sở giáo dục, kiểm soát chặt nguồn thực...15/08/2026 15:17:51Chính sách phát triển kinh tế số cần đặt doanh nghiệp vào vị trí trọng tâm
(THPL) - Kinh tế số Việt Nam đang duy trì tốc độ tăng trưởng cao, song để biến đà tăng trưởng thành giá trị gia tăng, năng suất và sức cạnh...15/08/2026 15:26:51
ĐỌC NHIỀU NHẤT
Quảng bá thương hiệu Việt
-
Tăng cường quảng bá sản phẩm, thương hiệu địa phương tại Hội chợ Mùa Xuân lần thứ nhất năm 2026
- Triển lãm “Đạo học ngàn năm” tôn vinh truyền thống hiếu học của dân...
- Tháo gỡ “điểm nghẽn” để ngành kim hoàn - đá quý Việt Nam cất cánh
- Vinh danh Nghệ nhân “Bàn tay vàng” và phong tặng Nghệ nhân Quốc gia