PGS-TS Ngô Trí Long: Gỡ “nút thắt”, tiếp sức doanh nghiệp vượt sóng
(THPL) - Chuyên gia kinh tế, PGS-TS Ngô Trí Long cho rằng các chính sách hỗ trợ của Chính phủ, bộ ngành và các địa phương thời gian qua đã phát huy tác dụng tích cực, tạo thêm dư địa phục hồi cho doanh nghiệp.
Trong bối cảnh chính trị - kinh tế thế giới có nhiều biến động, doanh nghiệp Việt Nam đối mặt với nhiều thách thức khi chi phí đầu vào tăng cao, thị trường xuất khẩu thu hẹp. Trước tình hình đó, Chính phủ và các bộ, ngành đã khẩn trương triển khai nhiều giải pháp đồng bộ nhằm tháo gỡ khó khăn, hỗ trợ doanh nghiệp ổn định sản xuất, củng cố nội lực và tạo nền tảng cho phục hồi, tăng trưởng bền vững.
Xoay quanh vấn đề này, phóng viên Thương hiệu và Pháp luật đã có cuộc trao đổi với chuyên gia kinh tế, PGS - TS Ngô Trí Long để làm rõ hơn tác động chính sách và các giải pháp cần thiết trong thời gian tới.
Thưa ông, ông đánh giá mức độ khó khăn của doanh nghiệp hiện nay ra sao?
PGS - TS Ngô Trí Long: Tôi cho rằng doanh nghiệp hiện nay vẫn đang ở trong trạng thái khó khăn có phân hóa, phục hồi có điều kiện chứ chưa thật sự vững chắc. Nghĩa là bức tranh không hoàn toàn tối, nhưng cũng chưa thể nói là đã thuận lợi. Cái khó lớn nhất nằm ở chỗ doanh nghiệp cùng lúc chịu sức ép từ cả đầu vào, đầu ra và dòng tiền.

Về đầu vào, chi phí nguyên vật liệu, logistics, lao động, lãi vay và chi phí tuân thủ vẫn là gánh nặng đáng kể. Chỉ số giá sản xuất sản phẩm công nghiệp quý I/2025 tăng 2,24% so với cùng kỳ, cho thấy áp lực chi phí chưa hề biến mất.
Về đầu ra, cầu thế giới phục hồi không đồng đều, cạnh tranh tại các thị trường xuất khẩu ngày càng khắt khe, nhất là khi các yêu cầu về truy xuất nguồn gốc, tiêu chuẩn xanh, lao động và phát thải đang trở thành ‘hàng rào mềm’ mới. Trong khi đó, sức mua trong nước có cải thiện nhưng chưa đủ mạnh để bù hoàn toàn cho phần thị trường bên ngoài bị co hẹp ở một số ngành.
Một chỉ dấu rất đáng chú ý là khu vực doanh nghiệp vẫn còn sức ép thanh lọc lớn. Hai tháng đầu năm 2025, bình quân mỗi tháng có hơn 33,5 nghìn doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường. Điều đó cho thấy khó khăn không chỉ là cảm nhận, mà đã phản ánh vào sức chịu đựng thực tế của khu vực sản xuất – kinh doanh. Mặt khác, PMI sản xuất Việt Nam tháng 1/2025 ở mức 48,9 điểm, dưới ngưỡng 50, cho thấy khu vực sản xuất từng có thời điểm suy giảm trước khi cải thiện trở lại vào cuối năm.
Tuy nhiên, cũng cần nhìn nhận công bằng rằng nền kinh tế vĩ mô năm 2025 đã có những điểm sáng quan trọng: GDP tăng 8,02%, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt khoảng 930 tỷ USD, tăng 18,2% so với năm 2024. Điều đó có nghĩa là khó khăn hiện nay không còn theo kiểu ‘đóng băng diện rộng’, mà là áp lực tái cơ cấu năng lực cạnh tranh. Doanh nghiệp yếu về quản trị, vốn mỏng, phụ thuộc một thị trường hay một nhóm khách hàng lớn sẽ khó hơn nhiều so với doanh nghiệp có năng lực thích ứng, chuyển đổi số và đa dạng hóa thị trường.
Nói ngắn gọn, mức độ khó khăn hiện nay là nghiêm trọng nhưng không đồng đều; thách thức lớn nhất không chỉ là thiếu đơn hàng hay thiếu vốn, mà là khả năng chống chịu và thích nghi trước một môi trường kinh doanh đang thay đổi nhanh hơn trước.”
Các chính sách hỗ trợ của Chính phủ như giảm thuế, phí, hỗ trợ vốn, xúc tiến thương mại… thời gian qua đã phát huy hiệu quả như thế nào?
PGS - TS Ngô Trí Long: Có thể nói, các chính sách hỗ trợ thời gian qua đã phát huy tác dụng tích cực, tạo thêm dư địa phục hồi cho doanh nghiệp.
Trước hết, về thuế và phí, việc Quốc hội ban hành Nghị quyết 204/2025/QH15 giảm 2% thuế VAT từ ngày 1/7/2025 đến hết 31/12/2026 là một quyết định rất quan trọng. Chính sách này vừa hỗ trợ doanh nghiệp giảm áp lực giá thành, vừa góp phần kích cầu tiêu dùng trong nước. Đồng thời, Nghị định 82/2025/NĐ-CP gia hạn thời hạn nộp VAT, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân và tiền thuê đất trong năm 2025 đã giúp doanh nghiệp có thêm dư địa dòng tiền trong ngắn hạn.
Thứ hai, về tín dụng, Ngân hàng Nhà nước đã điều hành khá chủ động. Tính đến ngày 30/6/2025, dư nợ tín dụng toàn hệ thống đạt trên 17,2 triệu tỷ đồng, tăng 9,9% so với cuối năm 2024 và tăng 19,32% so với cùng kỳ; đây là mức tăng cao nhất trong nhiều năm trở lại đây. Điều này cho thấy nỗ lực bơm vốn cho nền kinh tế là có thật. Ngoài ra, các chương trình tín dụng chuyên đề như lâm sản, thủy sản hay lúa gạo chất lượng cao cũng cho thấy tín dụng đã được hướng nhiều hơn vào khu vực sản xuất.
Thứ ba, về xúc tiến thương mại, hiệu quả cũng khá rõ. Giai đoạn 2021–2025, Bộ Công Thương đã phê duyệt 630 đề án xúc tiến thương mại với tổng kinh phí hơn 650 tỷ đồng, hỗ trợ trực tiếp hơn 41.000 lượt doanh nghiệp và hợp tác xã; riêng năm 2025 triển khai 114 đề án. Đây là một nỗ lực rất đáng ghi nhận trong bối cảnh thị trường xuất khẩu biến động mạnh.
Tuy nhiên, cũng phải nói rằng các chính sách giảm thuế, gia hạn thuế hay mở rộng tín dụng giúp doanh nghiệp ‘dễ thở hơn’, nhưng chưa tự động chuyển hóa thành năng lực cạnh tranh mới nếu doanh nghiệp vẫn yếu về công nghệ, quản trị, thương hiệu và khả năng đáp ứng tiêu chuẩn thị trường. Nói cách khác, chính sách hiện nay đã giúp doanh nghiệp chống đỡ tốt hơn, nhưng để lớn lên bền vững thì vẫn cần một tầng chính sách sâu hơn.
Ông đánh giá thế nào về vai trò đồng hành của Chính phủ và chính quyền địa phương trong việc tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp?
PGS - TS Ngô Trí Long: Tôi đánh giá vai trò đồng hành của Chính phủ thời gian qua là rất rõ nét và ngày càng thực chất hơn. Từ Trung ương đến địa phương, tư duy điều hành đã có chuyển biến theo hướng không chỉ ‘quản lý doanh nghiệp’ mà ngày càng coi doanh nghiệp là đối tượng cần được hỗ trợ để tạo tăng trưởng, việc làm và nguồn thu.
Ở tầm Chính phủ, điều đáng ghi nhận nhất là sự chủ động trong điều hành vĩ mô: giữ ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, duy trì các gói hỗ trợ thuế, phí, tín dụng, thúc đẩy đầu tư công và mở rộng xúc tiến thương mại. Chính sự kết hợp này đã tạo ra nền tảng cho tăng trưởng GDP 8,02% trong năm 2025 và duy trì đà mở rộng thương mại ở mức rất cao.
Ở cấp địa phương, nhiều nơi đã có chuyển biến tích cực trong đối thoại doanh nghiệp, tháo gỡ thủ tục, hỗ trợ mặt bằng, kết nối tín dụng, xúc tiến đầu tư và xúc tiến thương mại. Tuy nhiên, điểm cần nhấn mạnh là mức độ đồng hành giữa các địa phương còn chênh lệch khá lớn. Có địa phương coi thành công của doanh nghiệp là thành công của địa phương; nhưng cũng có nơi bộ máy vẫn nặng tư duy quản lý hành chính, phản ứng chậm, phối hợp chưa tốt, làm tăng chi phí thời gian cho doanh nghiệp.
Về lý thuyết kinh tế, vai trò của Nhà nước trong bối cảnh hiện nay không chỉ là ‘ban hành chính sách’, mà là giảm chi phí giao dịch cho thị trường. Một doanh nghiệp không chỉ cần ưu đãi thuế; họ cần thủ tục rõ ràng, thời gian xử lý ngắn, pháp lý dự đoán được, dữ liệu minh bạch và cán bộ dám chịu trách nhiệm. Nếu làm được điều đó, Nhà nước đã góp phần trực tiếp nâng năng suất nền kinh tế.
Tôi cho rằng điều doanh nghiệp đánh giá cao nhất không phải là những khẩu hiệu hỗ trợ, mà là sự nhất quán trong thực thi. Chính phủ đã rất nỗ lực; vấn đề hiện nay là làm sao tinh thần đó được truyền dẫn đầy đủ xuống từng sở, ngành, quận, huyện, khu công nghiệp, cơ quan thuế, hải quan, đất đai, môi trường. Khi khâu thực thi tốt, niềm tin của doanh nghiệp sẽ tăng lên rất nhiều.”

Từ thực tế triển khai, doanh nghiệp còn gặp những vướng mắc gì khi tiếp cận các chính sách hỗ trợ?
PGS, TS Ngô Trí Long: Theo tôi, có bốn vướng mắc lớn.
Thứ nhất là độ trễ chính sách. Chủ trương ban hành có thể đúng và kịp thời, nhưng từ văn bản đến thực thi thường mất thời gian; từ thực thi đến khi doanh nghiệp hấp thụ được chính sách lại mất thêm một khoảng nữa. Trong bối cảnh thị trường biến động nhanh, doanh nghiệp cần hỗ trợ ‘đúng lúc’, nếu chậm thì hiệu quả giảm đi nhiều.
Thứ hai là điều kiện tiếp cận còn chưa thật sự phù hợp với doanh nghiệp nhỏ và vừa. Nhóm này chiếm số đông nhưng lại yếu nhất về tài sản bảo đảm, hồ sơ tài chính chuẩn hóa, quản trị dòng tiền và năng lực lập phương án kinh doanh. Vì vậy, dù hệ thống tín dụng tăng trưởng mạnh, không phải doanh nghiệp nào cũng vay được vốn với chi phí hợp lý. Đây là nghịch lý phổ biến: nền kinh tế không thiếu vốn về tổng thể, nhưng nhiều doanh nghiệp vẫn ‘khát vốn’ ở cấp độ vi mô.
Thứ ba là thông tin chính sách còn phân tán, khó theo dõi. Nhiều doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ ở địa phương, không thiếu nhu cầu nhưng thiếu người đủ năng lực để cập nhật, hiểu và hoàn thiện thủ tục hưởng chính sách. Chính vì thế, cùng một chính sách nhưng doanh nghiệp lớn tiếp cận tốt hơn hẳn doanh nghiệp nhỏ.
Thứ tư là gánh nặng thủ tục và chi phí tuân thủ vẫn còn lớn. Doanh nghiệp hiện không chỉ chịu chi phí tài chính hữu hình, mà còn chịu chi phí vô hình do chậm phê duyệt, chồng chéo pháp lý, kiểm tra nhiều đầu mối, yêu cầu hồ sơ lặp lại. Đây là điểm nghẽn rất quan trọng vì nó bào mòn cả thời gian lẫn niềm tin kinh doanh.
Nói thẳng ra, vướng mắc lớn nhất hiện nay không phải thiếu chính sách, mà là khả năng chuyển chính sách từ văn bản thành hiệu quả thực tế cho doanh nghiệp.”
Ông đề xuất những giải pháp trọng tâm nào trong thời gian tới để giúp doanh nghiệp phục hồi và phát triển bền vững?
PGS - TS Ngô Trí Long: Theo tôi, trong thời gian tới cần tập trung vào năm nhóm giải pháp trọng tâm.
Một là, tiếp tục hỗ trợ nhưng phải chuyển mạnh từ hỗ trợ dàn trải sang hỗ trợ có mục tiêu. Giảm thuế, giãn thuế, hỗ trợ phí vẫn cần thiết, nhưng cần ưu tiên rõ hơn cho những ngành chịu sức ép lớn, những doanh nghiệp có khả năng lan tỏa việc làm, đổi mới công nghệ, tham gia chuỗi cung ứng và xuất khẩu. Chính sách càng đúng địa chỉ thì hiệu quả càng cao.
Hai là, cải thiện mạnh khả năng tiếp cận vốn thực chất cho doanh nghiệp nhỏ và vừa. Tăng trưởng tín dụng cao là tín hiệu tích cực, nhưng cần tiếp tục cải cách điều kiện vay, mở rộng cơ chế bảo lãnh tín dụng, phát triển các kênh cho vay dựa trên dòng tiền, hóa đơn, dữ liệu số và đơn hàng, thay vì quá lệ thuộc vào tài sản thế chấp truyền thống. Đồng thời, cần phát huy hiệu quả hơn Quỹ Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa cùng các mô hình cho vay gián tiếp qua ngân hàng thương mại.
Ba là, giảm chi phí tuân thủ và cải cách thủ tục theo hướng thực chất. Muốn doanh nghiệp phục hồi bền vững, phải giảm được ‘chi phí thể chế’. Cần một nguyên tắc rất rõ: một việc chỉ một đầu mối chịu trách nhiệm, thời hạn xử lý minh bạch, hồ sơ số hóa, dữ liệu liên thông, và cán bộ thực thi phải có trách nhiệm giải trình. Đây là cải cách có ý nghĩa không kém hỗ trợ tài chính.
Bốn là, hỗ trợ doanh nghiệp nâng năng lực cạnh tranh dài hạn. Cái doanh nghiệp cần không chỉ là sống sót qua giai đoạn khó khăn, mà là đủ sức lớn lên trong bối cảnh cạnh tranh mới. Vì thế, chính sách phải gắn mạnh hơn với chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, nâng chất lượng quản trị, tiêu chuẩn hóa sản phẩm, xây dựng thương hiệu và tận dụng FTA. Xúc tiến thương mại cần đi xa hơn hội chợ, kết nối đơn hàng; phải hỗ trợ doanh nghiệp hiểu thị trường, luật chơi, tiêu chuẩn mới và cách tham gia chuỗi giá trị bền vững.
Năm là, củng cố niềm tin chính sách. Đây là yếu tố rất quan trọng nhưng thường bị xem nhẹ. Doanh nghiệp chỉ đầu tư dài hạn khi họ tin rằng môi trường pháp lý ổn định, có thể dự đoán và được thực thi nhất quán. Vì vậy, cùng với hỗ trợ vật chất, cần nâng chất lượng điều hành, đối thoại thường xuyên hơn, giải quyết kiến nghị nhanh hơn, và đặc biệt là tránh tình trạng trên nóng dưới lạnh.
Tóm lại, tôi cho rằng thông điệp lớn nhất lúc này là: Doanh nghiệp không chỉ cần được ‘giải cứu’, mà cần được tạo điều kiện để tự nâng sức cạnh tranh. Chính sách tốt nhất không phải là chính sách làm thay doanh nghiệp, mà là chính sách giúp doanh nghiệp giảm chi phí, tăng niềm tin, tiếp cận nguồn lực thuận lợi hơn và có động lực đầu tư cho tương lai.”
Trân trọng cảm ơn ông!
Diệu Huyền thực hiện
Tin khác
Ban Chấp hành Trung ương Đảng thông qua nhiều văn kiện, nghị quyết quan trọng
Họp báo công bố Cuộc thi Nữ hoàng trang sức Việt Nam năm 2026 tại thành phố Huế
Chính phủ, địa phương đồng hành tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp
Thanh Hóa: Kỳ họp HĐND tỉnh sẽ bầu Chủ tịch HĐND tỉnh và các Phó Chủ tịch
Khủng hoảng xăng dầu toàn cầu và cách các quốc gia ứng phó
Phát biểu bế mạc của Tổng Bí thư Tô Lâm tại Hội nghị Trung ương lần thứ 2 khóa XIV
Doanh nghiệp Việt cần hướng đến việc làm chủ thương hiệu toàn cầu
(THPL) - TS Đinh Thế Hiển cho rằng doanh nghiệp Việt Nam chủ yếu vẫn xuất khẩu bán thành phẩm dưới dạng B2B không có thương hiệu. Trong khi...25/03/2026 23:18:40Sống như nghỉ dưỡng với “view rừng, hướng biển” - Giấc mơ của các runner tại đô thị biểu tượng mới phía Nam
(THPL) - Từ một cung đường chạy xanh nhất hệ thống VnExpress Marathon, Cần Giờ đang dần hé lộ một chuẩn sống khác biệt, nơi mỗi ngày trôi...25/03/2026 16:14:02Virus 'tàng hình’ GlassWorm tấn công chuỗi cung ứng phần mềm
(THPL) - Chiến dịch phát tán mã độc GlassWorm đã xâm nhập vào hơn 400 kho mã nguồn và tiện ích phần mềm trên nhiều nền tảng lập trình phổ...25/03/2026 15:39:00Thí điểm sàn tài sản số: Làm thế nào để có người dùng?
(THPL) - Với việc thí điểm sàn giao dịch tài sản số, các chuyên gia cho rằng một vấn đề quan trọng là làm thế nào để có người dùng thực...25/03/2026 15:21:12
ĐỌC NHIỀU NHẤT
Quảng bá thương hiệu Việt
-
Tăng cường quảng bá sản phẩm, thương hiệu địa phương tại Hội chợ Mùa Xuân lần thứ nhất năm 2026
- Triển lãm “Đạo học ngàn năm” tôn vinh truyền thống hiếu học của dân...
- Tháo gỡ “điểm nghẽn” để ngành kim hoàn - đá quý Việt Nam cất cánh
- Vinh danh Nghệ nhân “Bàn tay vàng” và phong tặng Nghệ nhân Quốc gia