Làm phim thua lỗ, đối tác đòi công ty Thu Trang hoàn trả vốn góp
Cho rằng công ty của diễn viên hài Thu Trang chậm hoàn trả vốn góp và phân chia lợi nhuận theo đúng hợp đồng, Công ty Bảo Trinh đã khởi kiện đòi hơn 3,4 tỷ đồng.
Tranh chấp điều khoản hợp đồng
Ngày 2/10 vừa qua, TAND TP Thủ Đức đã nhận được đơn kháng cáo của Công ty TNHH thương mại dịch vụ Bảo Trinh (Công ty Bảo Trinh - nguyên đơn) trong vụ án tranh chấp hợp đồng hợp tác đầu tư với Công ty TNHH giải trí tổng hợp Thu Trang (bị đơn).
Trước đó, vào cuối tháng 9, xử sơ thẩm TAND TP Thủ Đức tuyên buộc bị đơn phải thanh toán cho nguyên đơn 1,3 tỷ đồng. Không chấp nhận phán quyết trên, Công ty Bảo Trinh kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
Theo bản án sơ thẩm, ngày 16/11/2020, Công ty Bảo Trinh giao kết hợp đồng hợp tác sản xuất và kinh doanh phim với Công ty Thu Trang để góp vốn đầu tư bộ phim điện ảnh Cha tôi là dân chơi (sau được đổi tên thành Dân chơi không sợ con rơi).
Theo nội dung hợp đồng, kinh phí sản xuất bộ phim dự kiến là 23 tỉ đồng, Công ty Bảo Trinh góp 2,3 tỉ đồng tương đương 10% kinh phí; Trường hợp doanh thu khai thác bộ phim thấp hơn tổng vốn đầu tư, lợi nhuận cho Công ty Bảo Trinh là 10% doanh thu.
Ngày 24/7/2022, Công ty Thu Trang phát hành bảng kế toán hợp đồng hợp tác kinh doanh phim kèm theo bảng tổng kết doanh thu là hơn 24,9 tỉ đồng. Tổng chi phí cho việc sản xuất phát hành bộ phim là hơn 27,2 tỉ đồng. Sau khi trừ đi các khoản chi phí, việc sản xuất bộ phim bị lỗ hơn 2,28 tỉ đồng.

Công ty Bảo Trinh cho rằng căn cứ hợp đồng đã ký kết, công ty này phải được nhận lại phần vốn góp sau trừ khi 10% khoản lỗ hơn 2 tỉ đồng (2,3 tỉ đồng tiền vốn góp trừ 10% của khoản lỗ 2,28 tỉ đồng triệu đồng) và lợi nhuận bằng 10% của doanh thu (10% x 24,9 tỉ đồng). Tổng cộng hơn 4,5 tỉ đồng.
Tuy nhiên, Công ty Bảo Trinh chỉ nhận được một phần tiền vốn là 1,15 tỉ đồng và nhiều lần liên hệ với Công ty Thu Trang thanh toán phần vốn góp còn lại và doanh thu theo thỏa thuận là hơn 3,4 tỉ đồng nhưng không nhận được sự hợp tác.
Trình bày tại tòa, đại diện của Công ty Thu Trang xác nhận hai bên có ký thỏa thuận hợp tác sản xuất bộ phim nói trên. Chi phí dự kiến cho bộ phim ban đầu là 23 tỷ đồng, trong đó Công ty Bảo Trinh góp 2,3 tỷ (tương đương 10%). Tuy nhiên, số liệu quyết toán bộ phim sau đó tăng lên 27,2 tỷ đồng. Số liệu này là căn cứ để quyết toán lãi, lỗ giữa Công ty Thu Trang với Công ty Lotte.
Theo bị đơn, khi ký kết hợp đồng hợp tác kinh doanh để nhà sản xuất và bên đầu tư chia sẻ rủi ro, trong trường hợp xấu nhất doanh thu khai thác của bộ phim thấp hơn tổng vốn đầu tư là 23 tỷ thì phần chia lợi nhuận cho Công ty Bảo Trinh là 10% danh thu mà không được hoàn vốn.
Để tính toán lời lỗ theo hợp đồng đầu tư phim với Công ty Bảo Trinh, bị đơn đề xuất tính theo cách thức lấy doanh thu thuần hơn 24,9 tỷ đồng trừ đi chi phí sản xuất là 23 tỷ được lợi nhuận là hơn 1,82 tỷ. Công ty Bảo Trinh được nhận 10% số này tương đương với 182 triệu đồng.
Tòa án đồng thuận với bị đơn
TAND TP Thủ Đức tuyên chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn, buộc Công ty Thu Trang hoàn trả cho Công ty Bảo Trinh số tiền hơn 1,3 tỉ đồng bao gồm 1,15 tỉ đồng phần vốn góp còn lại và 10% lợi nhuận phát sinh 198 triệu đồng.
Theo HĐXX, tổng các khoản doanh thu các đợt phát hành phim là hơn 52 tỉ đồng. Sau khi trừ đi phí thuê rạp hơn 26,4 tỉ đồng và chi phí 4 đợt phát hành phim là hơn 649 triệu đồng, còn doanh thu thuần là 24,9 tỉ đồng.
Lợi nhuận phát hành mà Công ty Bảo Trinh được hưởng được tính bằng doanh thu thuần của bộ phim 24,9 tỉ đồng trừ đi phí sản xuất 23 tỉ đồng là 1,9 tỉ đồng. Như vậy, 10% lợi nhuận mà Công ty Bảo Trinh được nhận tương đương 198 triệu đồng.
Đối với yêu cầu của Công ty Bảo Trinh cho rằng lợi nhuận của bộ phim không có và yêu cầu nhận lại phần vốn góp cùng với 10% doanh thu là không phù hợp với quy định Điều 504 BLDS và không có căn cứ chấp nhận. Theo đó, hợp đồng hợp tác là sự thỏa thuận giữa các cá nhân, pháp nhân về việc cùng đóng góp tài sản, công sức để thực hiện công việc nhất định, cùng hưởng lợi, cùng phải chịu trách nhiệm.
Công ty Bảo Trinh đã kháng cáo toàn bộ nội dung vụ án, cho rằng tòa đã không xem xét toàn diện đến chứng cứ có trong hồ sơ và lời trình bày của đương sự trong quá trình giải quyết vụ án, làm ảnh hưởng đến quyền lợi ích hợp pháp của họ.
Minh Hoàng
Tin khác
Hải Phòng phê duyệt hơn 3.200 khu vực cấm, tạm cấm hoạt động khoáng sản
Auspacific Investment Việt Nam chính thức ra mắt tại Hà Nội: Xác lập hệ quy chiếu mới cho bất động sản cao cấp
Thủ tướng: Mọi quyết định đầu tư phải hạch toán hiệu quả kinh tế - xã hội
Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước lĩnh vực văn hóa, thể thao và du lịch
Thông qua Nghị quyết về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2026-2030
Chiếm 54,51% thị phần, Green SM tiếp tục dẫn đầu thị trường gọi xe taxi công nghệ Việt Nam
Ô tô nhập khẩu từ Trung Quốc tăng mạnh trong tháng 3
(THPL) - Số liệu cập nhật từ Cục Hải quan cho thấy, tháng 3/2026 lượng ô tô nguyên chiếc nhập khẩu tăng mạnh, đạt 25.255 xe, (trị giá 590...24/04/2026 14:59:00Cuộc đua “Net Zero” và áp lực lên hạ tầng khu công nghiệp
(THPL) - Cuộc đua “Net Zero” không chỉ làm thay đổi cách doanh nghiệp sản xuất, mà đang tái định nghĩa vai trò của khu công nghiệp (KCN). Trong...24/04/2026 18:00:29Quốc hội chính thức thông qua Nghị quyết phát triển văn hóa
(THPL) - Sáng ngày 24/4, với 477/489 đại biểu tán thành, đạt tỉ lệ 95,40%, Quốc hội đã biểu quyết thông qua Nghị quyết về phát triển văn...24/04/2026 12:37:19Quốc hội chính thức bỏ ngưỡng thuế 500 triệu đồng với hộ kinh doanh
(THPL) - Quyết sách bãi bỏ "ngưỡng cứng" 500 triệu đồng để hướng tới mức miễn thuế 1 tỷ đồng được kỳ vọng sẽ tạo động lực...24/04/2026 12:34:19
ĐỌC NHIỀU NHẤT
Quảng bá thương hiệu Việt
-
Tăng cường quảng bá sản phẩm, thương hiệu địa phương tại Hội chợ Mùa Xuân lần thứ nhất năm 2026
- Triển lãm “Đạo học ngàn năm” tôn vinh truyền thống hiếu học của dân...
- Tháo gỡ “điểm nghẽn” để ngành kim hoàn - đá quý Việt Nam cất cánh
- Vinh danh Nghệ nhân “Bàn tay vàng” và phong tặng Nghệ nhân Quốc gia