Giá trị của sandbox với công nghiệp văn hoá không chỉ là "thử cái mới"
(THPL) - PGS.TS Bùi Hoài Sơn cho rằng với công nghiệp văn hóa, giá trị của sandbox không chỉ nằm ở việc tạo điều kiện cho doanh nghiệp “thử cái mới”, mà còn ở khả năng giảm bớt sự bất định của môi trường đầu tư.
Trong những năm gần đây, công nghệ đang làm thay đổi khá nhanh cách các sản phẩm văn hóa được sáng tạo, sản xuất và tiếp cận công chúng. Cùng với đó là sự xuất hiện của nhiều mô hình kinh doanh mới, trong khi hành lang pháp lý đôi khi chưa thể ngay lập tức theo kịp.
Khoảng trống ấy, nếu không được xử lý phù hợp, có thể khiến doanh nghiệp chần chừ, nhà đầu tư thận trọng và những ý tưởng mới khó có cơ hội đi xa. Sandbox vì thế được xem như một cách tiếp cận linh hoạt hơn: cho phép cái mới được thử nghiệm trong một phạm vi nhất định, có kiểm soát, từ đó giúp cả doanh nghiệp và cơ quan quản lý cùng có thêm kinh nghiệm thực tế.

Để hiểu rõ hơn cơ hội mà sandbox có thể mang lại cho doanh nghiệp cũng như dòng vốn vào công nghiệp văn hóa, phóng viên Thương hiệu và Pháp luật đã có cuộc trao đổi với PGS.TS Bùi Hoài Sơn, Ủy viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội để làm rõ về vấn đề này.
Theo ông, Sandbox có thể mang lại những thay đổi gì cho môi trường đầu tư trong công nghiệp văn hóa?
PGS.TS Bùi Hoài Sơn: Với công nghiệp văn hóa, giá trị của sandbox không chỉ nằm ở việc tạo điều kiện cho doanh nghiệp “thử cái mới”, mà còn ở khả năng giảm bớt sự bất định của môi trường đầu tư.
Trong kinh doanh, nhất là những lĩnh vực sáng tạo, vốn không chỉ e ngại rủi ro mà còn rất quan tâm đến việc rủi ro đó có thể nhìn thấy và dự đoán được hay không. Nhà đầu tư thường muốn biết một mô hình mới có được phép triển khai không, cơ quan nào quản lý, cần đáp ứng những tiêu chuẩn nào và nếu pháp luật chưa có quy định thì doanh nghiệp sẽ phải chờ đến bao giờ.
Sandbox có thể tạo ra một khoảng không gian pháp lý có giới hạn để giải quyết những câu hỏi đó. Thay vì doanh nghiệp chỉ có hai lựa chọn “được phép” hoặc “không được phép” trong khi pháp luật chưa theo kịp công nghệ, Nhà nước có thể cho phép thử nghiệm trong một phạm vi cụ thể về đối tượng, địa bàn, thời gian, quy mô và các điều kiện kiểm soát.
Khi ấy, doanh nghiệp biết mình được phép làm đến đâu, cơ quan quản lý có cơ hội quan sát và đánh giá từ thực tế, còn nhà đầu tư có thêm thông tin để cân nhắc mức độ rủi ro.
Tôi nghĩ đây là điểm rất đáng chú ý của sandbox. Nó không làm cho rủi ro biến mất, nhưng giúp rủi ro trở nên rõ ràng hơn và có thể quản lý được. Và tôi đặc biệt muốn nhấn mạnh rằng sandbox không trực tiếp tạo ra vốn. Nhưng sandbox có thể tạo niềm tin để vốn mạnh dạn đi vào thị trường.
Ví dụ cụ thể là gì, thưa ông?
PGS.TS Bùi Hoài Sơn: Chẳng hạn, một dự án về nội dung số, game, AI, điện ảnh hay một mô hình trải nghiệm văn hóa mới nếu được thử nghiệm trong một khuôn khổ hợp pháp, có cơ chế bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, có tiêu chí đánh giá và có khả năng chuyển sang hoạt động kinh doanh chính thức, thì nhà đầu tư sẽ có nhiều cơ sở hơn để đánh giá tiềm năng của dự án. Khi đó, các quỹ đầu tư, doanh nghiệp lớn hay những nhà đầu tư chiến lược cũng có thể tự tin hơn khi quyết định bỏ vốn.

Theo nghĩa đó, sandbox có thể trở thành một cây cầu nối giữa ý tưởng sáng tạo, thị trường và dòng vốn.
Những “điểm nóng” nào của công nghiệp văn hóa có thể đón dòng vốn từ sandbox?
PGS.TS Bùi Hoài Sơn: Trước hết sẽ là những lĩnh vực nằm ở điểm giao giữa văn hóa, công nghệ và thị trường. Đây cũng thường là những lĩnh vực thay đổi rất nhanh, trong khi chính sách cần thêm thời gian để hoàn thiện.
Có thể kể đến nội dung số, trò chơi điện tử, điện ảnh ứng dụng công nghệ mới, hoạt hình, âm nhạc số, các nền tảng phân phối nội dung, AI tạo sinh trong sáng tạo, công nghệ thực tế ảo, thực tế tăng cường, các sản phẩm khai thác dữ liệu văn hóa, bảo tàng số, di sản số hay những mô hình trải nghiệm văn hóa – du lịch mới.
Nghị định 277/2026/NĐ-CP về hạ tầng văn hóa số cũng đã mở ra một nền tảng đáng chú ý khi xác định khá rộng hệ sinh thái sản phẩm, dịch vụ văn hóa số, từ di sản số, VR, AR, nội dung và giải trí số, điện ảnh, mỹ thuật, nhiếp ảnh, thiết kế sáng tạo đến nghệ thuật biểu diễn trực tuyến và du lịch, trải nghiệm văn hóa số.
Việc khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào công nghệ và sản phẩm văn hóa số, cùng với cơ chế API sandbox sử dụng dữ liệu giả lập để cộng đồng phát triển thử nghiệm, theo tôi là những bước đi có ý nghĩa.
Nếu nhìn từ góc độ khả năng thu hút vốn, tôi cho rằng game, nội dung số, điện ảnh – hoạt hình, AI phục vụ sáng tạo và các nền tảng công nghệ văn hóa có thể tạo hiệu ứng tương đối nhanh.
Đây là những lĩnh vực có thị trường rộng, khả năng tiếp cận số lượng lớn người dùng và đặc biệt có cơ hội đưa sản phẩm văn hóa Việt Nam ra thị trường quốc tế.
Nhưng điều thú vị hơn là về lâu dài, sandbox có thể tạo điều kiện cho những mô hình mà hiện nay chúng ta chưa có một cách gọi thật đầy đủ.
Theo tôi, đó mới là giá trị lớn của sandbox. Nếu những gì doanh nghiệp muốn làm đã được pháp luật quy định rất rõ thì không nhất thiết phải có sandbox. Sandbox nên dành cho những ý tưởng mới, có tiềm năng tạo ra giá trị nhưng chưa tìm được một khuôn khổ pháp lý thật phù hợp.
Theo ông, điều gì sẽ khiến doanh nghiệp lớn và startup sẵn sàng bước vào “vùng thử nghiệm?
PGS.TS Bùi Hoài Sơn: Sandbox không phải một “cây đũa thần”. Cơ chế này chỉ thực sự hấp dẫn nếu giải quyết được những băn khoăn cụ thể của doanh nghiệp, thay vì trở thành thêm một thủ tục hành chính.
Với startup, điều họ cần trước hết là giảm chi phí và thời gian để gia nhập thị trường, đồng thời có điều kiện tiếp cận dữ liệu, hạ tầng, công nghệ và một nhóm khách hàng đủ để kiểm chứng ý tưởng.
Một doanh nghiệp nhỏ khó có thể dành vài năm chỉ để chờ xác định mô hình của mình thuộc phạm vi quản lý của cơ quan nào. Với doanh nghiệp lớn và các quỹ đầu tư, câu chuyện có phần khác. Họ quan tâm nhiều hơn đến sự ổn định, khả năng dự báo và đặc biệt là điều gì sẽ xảy ra sau khi giai đoạn thử nghiệm kết thúc.

Nếu thử nghiệm thành công, sản phẩm có được mở rộng hay không? Điều kiện chuyển tiếp như thế nào? Quyền sở hữu trí tuệ được bảo vệ ra sao? Chính sách có đủ ổn định để doanh nghiệp tiếp tục đầu tư hay không?
Những câu hỏi đó rất quan trọng đối với quyết định đầu tư.
Vì vậy, điểm hấp dẫn nhất của sandbox không phải là doanh nghiệp được “nới” hay “miễn” một vài quy định, mà là có một kênh đối thoại rõ ràng và thường xuyên với cơ quan quản lý.
Trong quá trình thử nghiệm, Nhà nước và doanh nghiệp có thể cùng nhìn thấy những vấn đề phát sinh và cùng tìm cách xử lý, thay vì để doanh nghiệp đi hết một chặng đường rồi mới phát hiện mô hình của mình đang vướng ở đâu đó trong hệ thống pháp luật.
Tôi cũng cho rằng sandbox sẽ phát huy hiệu quả tốt hơn nếu được đặt trong một hệ sinh thái chính sách rộng hơn, bao gồm dữ liệu, sở hữu trí tuệ, tín dụng, đầu tư mạo hiểm, ưu đãi thuế, hạ tầng sáng tạo và Quỹ văn hóa, nghệ thuật.
Nghị quyết 28/2026/QH16 đã thể hiện tinh thần huy động nguồn lực xã hội cho phát triển văn hóa. Nghị định 277/2026/NĐ-CP cũng khuyến khích các tập đoàn công nghệ và doanh nghiệp trong, ngoài nước tham gia đầu tư vào hạ tầng, sản phẩm và dịch vụ văn hóa số.
Nếu những chính sách này được kết nối với nhau, chúng ta sẽ có nhiều cơ hội hơn để thu hút nguồn lực xã hội và từng bước hình thành những doanh nghiệp công nghiệp văn hóa có khả năng cạnh tranh trong khu vực.
Theo ông, vùng thử nghiệm” cần được thiết kế thế nào để vừa rộng cửa đổi mới, vừa giữ được sự công bằng?
PGS.TS Bùi Hoài Sơn: Điều đầu tiên cần thống nhất là sandbox không phải “vùng miễn trừ pháp luật”, mà là “vùng thử nghiệm có kiểm soát”.
Mục tiêu của sandbox là tạo điều kiện để cái mới được thử nghiệm và để pháp luật có thể học hỏi từ thực tiễn, chứ không phải tạo ra một đặc quyền riêng cho một vài doanh nghiệp.
Vì vậy, càng tạo nhiều không gian cho sáng tạo thì những yêu cầu về minh bạch, trách nhiệm và giám sát càng cần được xác định rõ. Tiêu chí lựa chọn doanh nghiệp tham gia phải công khai, có thể đo lường và không nên được thiết kế theo kiểu “may đo” cho một doanh nghiệp cụ thể.
Bên cạnh đó, cần xác định rõ phạm vi, thời gian thử nghiệm, số lượng người dùng cũng như trách nhiệm của doanh nghiệp đối với người tiêu dùng, dữ liệu cá nhân, quyền tác giả, quyền liên quan và những thiệt hại có thể phát sinh.
Với công nghiệp văn hóa, sở hữu trí tuệ và dữ liệu đặc biệt quan trọng. Khi những tài sản văn hóa ngày càng được số hóa và khai thác bằng công nghệ, việc bảo vệ quyền tác giả, quyền liên quan cũng như an toàn dữ liệu cần được đặt ngay từ đầu trong thiết kế sandbox.
Một điều khác tôi cho rằng rất quan trọng là sandbox phải có điểm đến. Mỗi chương trình thử nghiệm cần hướng tới việc trả lời một số câu hỏi: mô hình có tạo ra giá trị kinh tế – xã hội không? Những rủi ro nào đã xuất hiện? Có thể kiểm soát những rủi ro đó đến đâu? Và từ thực tiễn thử nghiệm, pháp luật cần được bổ sung hay điều chỉnh điều gì?

Nếu doanh nghiệp thử nghiệm hết năm này sang năm khác mà vẫn không thể bước ra thị trường, sandbox sẽ trở thành một “phòng chờ pháp lý”. Khi ấy, mục tiêu ban đầu sẽ không còn. Tôi nghĩ thước đo thành công của sandbox cũng không nên chỉ là có bao nhiêu doanh nghiệp được tham gia thử nghiệm.
Quan trọng hơn là có bao nhiêu ý tưởng tốt được đưa ra thị trường, bao nhiêu doanh nghiệp có thể lớn lên, bao nhiêu vốn tư nhân được huy động, bao nhiêu việc làm sáng tạo được tạo ra và bao nhiêu quy định mới được hoàn thiện từ thực tiễn.
Nếu làm được điều đó, sandbox sẽ không chỉ là một công cụ quản lý mới. Nó còn cho thấy một cách tiếp cận khác trong quản trị: Nhà nước không nhất thiết phải đứng ngoài chờ cái mới xuất hiện rồi mới tìm cách quản lý. Thay vào đó, có thể chủ động tạo ra một không gian đủ an toàn để cái mới được thử nghiệm, được chứng minh và từng bước trưởng thành.
Đó cũng có thể là cách để ý tưởng sáng tạo tìm được đường đến thị trường, doanh nghiệp tìm được cơ hội lớn lên và dòng vốn tìm thấy những lĩnh vực mới của công nghiệp văn hóa Việt Nam.
Xin cảm ơn ông!
Hà Giang thực hiện
Tin khác
Giá vàng ngày 11/8: Vàng vượt ngưỡng 145 triệu đồng/lượng
Dự báo thời tiết ngày 11/8: Bắc Bộ nắng nóng gay gắt, nhiều nơi trên 38 độ C
Ngân hàng Nhà nước yêu cầu giảm lãi suất cho vay, hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa
Tháo gỡ "nút thắt" mã số vùng trồng, đưa thương hiệu sầu riêng Việt vươn tầm thế giới
Không để doanh nghiệp có dự án tốt mà không tiếp cận được vốn
Việt Nam sẽ kiểm tra doanh nghiệp chế biến xuất khẩu thuỷ sản sang châu Âu
Đề xuất 6 nhóm chính sách thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa Việt Nam
(THPL) - Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đang lấy ý kiến nhân dân về dự thảo Luật Công nghiệp văn hóa. Với 6 nhóm chính sách then chốt, dự...10/08/2026 19:50:39Công an tỉnh Thanh Hóa có tân giám đốc
(THPL) - Đại tá Hoàng Quốc Việt, Phó Cục trưởng Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Bộ Công an vừa được điều động đến nhận...10/08/2026 19:54:34Loạt ngân hàng tiếp tục điều chỉnh lãi suất
(THPL) – Hiện nay, đã có 8 ngân hàng thương mại trả lãi suất gửi tiết kiệm trên 7%/năm. Dẫn đầu thị trường là ACB với mức lãi suất cao...10/08/2026 16:15:00Rau quả Việt khởi sắc tại thị trường EU, hàng chế biến sâu lập kỷ lục mới
(THPL) - Với kim ngạch xuất khẩu tháng 7/2026 đạt 1,12 tỷ USD, ngành rau quả Việt Nam đang chứng minh sức bật mạnh mẽ. Trong đó, việc chuyển...10/08/2026 16:17:54
ĐỌC NHIỀU NHẤT
Quảng bá thương hiệu Việt
-
Tăng cường quảng bá sản phẩm, thương hiệu địa phương tại Hội chợ Mùa Xuân lần thứ nhất năm 2026
- Triển lãm “Đạo học ngàn năm” tôn vinh truyền thống hiếu học của dân...
- Tháo gỡ “điểm nghẽn” để ngành kim hoàn - đá quý Việt Nam cất cánh
- Vinh danh Nghệ nhân “Bàn tay vàng” và phong tặng Nghệ nhân Quốc gia